1. Thuốc Egolanza là thuốc gì?
Thuốc Egolanza được sản xuất bởi Egis Pharmaceuticals Private Limited Company, với hoạt chất chính là Olanzapine 10 mg.Thuốc chỉ định điều trị chứng tâm thần phân liệt,…
2. Thành phần thuốc Egolanza
Hoạt chất: 10mg olanzapine (tương đương với 14,06mg olanzapine dihydroclorid trihydrat).
Tá dược lõi viên: cellulose vi tinh thể, lactose monohydrat, hydroxypropylcellulose, crospovidon, magnesi stearat.
Tá dược bao phim: hypromellose, quinoline yellow, opadry-Y-1-7000 white (hypromellose, titan dioxyd, macrogol 400
3. Dạng bào chế
Viên nén bao phim.
4. Chỉ định
Người lớn
Olanzapine được chỉ định điều trị chứng tâm thần phân liệt.
Olanzapine có hiệu quả để duy trì các cải thiện lâm sàng khi tiếp tục điều trị bằng Olanzapine ở bệnh nhân đã có đáp ứng với lần trị liệu đầu tiên.
Olanzapine được chỉ định trong điều trị triệu chứng hưng cảm vừa và nặng.
Ở những bệnh nhân mà giai đoạn hưng cảm có đáp ứng với trị liệu olanzapine, olanzapine được dùng để phòng ngừa tái phát ở bệnh nhân bị rối loạn lưỡng cực (xem mục Dược lực học).
5. Liều dùng
Người lớn:
Bệnh tâm thần phân liệt: Liều khởi đầu khuyên dùng là 10mg olanzapine/ngày.
Giai đoạn hưng cảm: Liều khởi đầu là 15mg, ngày 1 lần khi dùng trị liệu đơn độc hoặc 10mg mỗi ngày khi dùng trị liệu kết hợp (xem mục Dược lực học).
Ngăn ngừa tái phát trong bệnh rối loạn lưỡng cực: Liều khởi đầu khuyên dùng là 10 mg/ngày. Đối với bệnh nhân đang dùng olanzapine để điều trị giai đoạn hưng cảm, tiếp tục điều trị với liều tương tự đề phòng tái phát. Nếu xuất hiện 1 giai đoạn hưng cảm, kết hợp hoặc trầm cảm mới, nên tiếp tục điều trị bằng olanzapine (với liều tối ưu cần thiết cùng với trị liệu bổ trợ để điều trị các triệu chứng về tâm trạng theo tình trạng lâm sàng.
Trong thời gian điều trị bệnh tâm thần phân liệt, giai đoạn hưng cảm và phòng ngừa tái phát trong bệnh rối loạn lưỡng cực, liều dùng hàng ngày sau đó có thể được điều chỉnh tùy theo tình trạng lâm sàng của từng bệnh nhân, trong khoảng 5-20 mg/ngày. Chỉ được tăng liều cao hơn liều khởi đầu khuyến cáo sau khi có đánh giá lâm sàng thích hợp và trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ.
Khi ngừng sử dụng olanzapine phải giảm liều từ từ.
Trẻ em:
Không dùng Olanzapine cho trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi do chưa có các dữ liệu về độ an toàn và hiệu quả. Trong các nghiên cứu ngắn hạn trên bệnh nhân thanh thiếu niên, tỷ lệ tăng cân, rối loạn lipid và prolactin xảy ra nhiều hơn so với người lớn (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng, Tác dụng không mong muốn, Dược lực học và Dược động học).
Người già:
Không cần dùng liều khởi đầu thấp (5 mg/ngày) cho tất cả bệnh nhân lớn tuổi nhưng nên cân nhắc cho người già trên 65 tuổi khi có kèm các yếu tố lâm sàng không thuận lợi (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng).
Bệnh nhân suy thận và/ hoặc suy gan:
Nên cân nhắc dùng liều khởi đầu thấp (5mg) cho những bệnh nhân này. Trong trường hợp suy gan mức độ trung bình (xơ gan, loại A hoặc B theo phân loại Child-Pugh), nên dùng liều khởi đầu 5mg và thận trọng khi tăng liều.
Giới tính:
Không có khác nhau về liều khởi đầu và khoảng liều thông thường ở người bệnh nam và người bệnh nữ.
Bệnh nhân hút thuốc lá:
Không có khác nhau về liều khởi đầu và khoảng liều thông thường ở người bệnh không hút thuốc và người bệnh có hút thuốc.
Khi có nhiều hơn một yếu tố làm chậm quá trình chuyển hóa của Olanzapine (nữ giới, tuổi già, không hút thuốc), nên cân nhắc dùng liều khởi đầu thấp. Nên thận trọng khi có chỉ định tăng liều ở những bệnh nhân này.
(Xem mục Tương tác với các thuốc khác và các dạng tương tác khác và mục Dược động học).
Cách dùng:
Olanzapine có thể được sử dụng mà không cần chú ý đến bữa ăn do sự hấp thu của thuốc không bị ảnh hưởng bởi thức ăn.
6. Chống chỉ định
Bệnh nhân mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào của thuốc.
Bệnh nhân đã biết có nguy cơ bệnh glôcôm góc hẹp.
7. Tác dụng phụ
Người lớn
Các phản ứng bất lợi thường gặp nhất ( xảy ra ở ≥ 1% số bệnh nhân) liên quan đến việc sử dụng olanzapine trong các thử nghiệm lâm sàng là buồn ngủ, tăng cân, tăng bạch cầu ưa eosin, tăng nồng độ prolactin, cholesterol, glucose và triglyceride (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng). glucose niệu, thèm ăn, chóng mặt, bồn chồn, hội chứng Parkinson (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng), rối loạn vận động, hạ huyết áp tư thế, tác dụng kháng cholinergic, tăng thoáng qua không có triệu chứng của các aminotransferase gan (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng), phát ban, suy nhược, mệt mỏi và phù.
Bảng sau liệt kê các phản ứng bất lợi và ảnh hưởng đến xét nghiệm cận lâm sàng thu được từ các thử nghiệm lâm sàng và báo cáo sử dụng thuốc. Trong mỗi nhóm tần suất, phản ứng bất lợi được trình bày theo thứ tự mức độ nghiêm trọng giảm dần. Các thuật ngữ tần suất được liệt kê được định nghĩa như sau: rất thường xuyên (≥ 1/10); thường xuyên (≥ 1/100 đến <1/10); không thường xuyên (≥ 1/1000 đến < 1/100); hiếm (≥ 1/10000 đến < 1/1000); rất hiếm (< 1/10, 000), không biết (không thể ước tính được từ các dữ liệu hiện có).
|
Rất thường xuyên |
Thường xuyên |
Không thường xuyên |
Không biết |
|
Rối loạn hệ máu và miễn dịch |
|
|
|
|
|
Tăng bạch cầu ưa eosin |
Giảm bạch cẩu |
Giảm tiểu cầu |
|
Rối loạn hệ miễn dịch |
|
|
|
|
|
|
|
Phản ứng dị ứng |
|
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng |
|
|
|
|
Tăng cân1 |
Tăng nồng độ cholesterol 2,3 |
|
Xuất hiện hoặc làm trám trọng bệnh tiểu đường, |
|
Rối loạn hệ thần kinh trung ương |
|
|
|
|
Buồn ngủ |
Chóng mặt |
|
Động kinh trong hầu hết các trường hợp có tiền sử |
|
Rối loạn tim |
|
|
|
|
|
|
Nhịp tim chậm |
Nhịp nhanh thất/ rung, chết tim đột ngột (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng) |
|
Rối loạn mạch |
|
|
|
|
|
Hạ huyết áp tư thế |
Huyết khối tắc mạch (bao gồm tắc mạch phổi và huyết khối tĩnh mạch sâu) (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng) |
|
|
Rối loạn tiêu hóa |
|
|
|
|
|
Tác dụng kháng cholinergic nhẹ, thoáng qua bao gồm táo bón và khô miệng |
|
Viêm tụy |
|
Rối loạn gan-mật |
|
|
|
|
|
Tăng thoáng qua không có triệu chứng các |
|
Viêm gan (bao gồm tổn thương tế bào gan, ứ mật và |
|
Rối loạn da và phần mềm dưới da |
|
|
|
|
|
Phát ban |
Phản ứng nhạy cảm với ánh sáng |
|
|
Rối loạn cơ xương và mô liên kết |
|
|
|
|
|
|
|
Globin cơ niệu kịch phát |
|
Rối loạn thận và tiết niệu |
|
|
|
|
|
|
Tiểu tiện không kiểm soát, bí tiểu |
Tiểu dắt |
|
Thai kỳ và sau sinh |
|
|
|
|
|
|
|
Hội chứng cai thuốc ở trẻ sơ sinh (xem mục Phụ nữ có thai và cho con bú) |
|
Rối loạn sinh dục và hệ sinh sản |
|
|
|
|
|
Rối loạn khả năng cương cứng ở nam giới |
Mất kinh |
Cương đau dương vật |
|
Rối loạn toàn thân |
|
|
|
|
|
Suy nhược |
|
|
|
Xét nghiệm cận lâm sàng |
|
|
|
|
Tăng nồng độ prolactin trong huyết thanh 8 |
|
Creatine phosphokinase cao |
Tăng phosphatase kiềm |
1Tăng cân có ý nghĩa lâm sàng đã quan sát được trên tất cả các loại chỉ số khối cơ thể (BMI). Sau điều trị ngắn hạn (thời gian trung bình 47 ngày), tăng cân ≥ 7% trọng lượng cơ thể ban đầu xảy ra rất thường xuyên (tỷ lệ 22,2%), tăng ≥ 15% trọng lượng cơ thể ban đầu thường xuyên xảy ra (tỷ lệ 4,2%) và tăng ≥ 25% trọng lượng cơ thể ban đầu xảy ra không thường xuyên (tỷ lệ 0,8%). Bệnh nhân tăng cân ≥ 7%, ≥ 15% và ≥ 25% trọng lượng cơ thể ban đầu của họ khi dùng thuốc dài hạn (ít nhất 48 tuần) xảy ra rất thường xuyên (tỷ lệ tương ứng là 64,4%; 31,7% và 12,3%).
2Có nghĩa là gia tăng nồng độ lipid lúc đói (cholesterol toàn phần, LDL cholesterol, và triglycerides) cao hơn ở những bệnh nhân không có bằng chứng của rối loạn lipid ban đầu.
3Quan sát được nồng độ bình thường lúc đói ban đầu (< 5,17 mmol/l) tăng lên mức cao |≥ 6,2 mmol/l}. Thay đổi nồng độ cholesterol toàn phần lúc đói từ giới hạn ban đầu (≥ 5,17 đến < 6,2 mmol/l) lên mức cao (≥ 6,2 mmol/l) xảy ra rất thường xuyên.
4Quan sát được nồng độ bình thường lúc đói ban đầu (< 5,56 mmol/l) tăng lên mức cao (≥ 7 mmol/l).
Thay đổi đường huyết lúc đói từ giới hạn ban đầu (≥ 5,56 đến <7 mmol/l) lên mức cao (≥ 7 mmol/l) xảy ra rất thường xuyên.
5Quan sát được nồng độ bình thường lúc đói ban đầu (< 1,69 mmol/l) tăng lên mức cao |≥ 2,26 mmol/l). Thay đổi nồng độ triglycerides lúc đói từ giới hạn ban đầu (≥ 1,69 mmol/l đến < 2,26 mmol/l) lên mức cao (≥ 2,26 mmol/l) xảy ra rất thường xuyên.
6Trong các thử nghiệm lâm sàng, tỷ lệ xảy ra hội chứng Parkinson và rối loạn trương lực ở các bệnh nhân được điều trị bằng olanzapine cao hơn, nhưng không có ý nghĩa thống kê so với giả dược. Bệnh nhân được điều trị bằng Olanzapine có tỷ lệ xảy ra hội chứng Parkinson, bồn chồn và rối loạn trương lực thấp hơn so với liều chuẩn của haloperidol. Trong trường hợp không có thông tin chi tiết về tiền sử của từng rối loạn. vận động ngoại tháp cấp tính và muộn, hiện nay không thể kết luận được rằng olanzapine ít gây rối loạn vận động muộn và/ hoặc các hội chứng ngoại tháp muộn khác.
7Các triệu chứng cấp tính như toát mồ hôi, mất ngủ, run, lo lắng, buồn nôn và nôn đã được báo cáo khi ngừng sử dụng olanzapine đột ngột.
8 Trong các thử nghiệm lâm sàng lên đến 12 tuần, nồng độ prolactin trong huyết tương vượt quá giới hạn trên của mức bình thường xảy ra trên khoảng 30% số bệnh nhân điều trị bằng olanzapine có giá trị prolactin ban đầu bình thường. Trong đa số những bệnh nhân này, nồng độ prolactin chỉ tăng nhẹ và thấp hơn hai lần giới hạn trên của mức bình thường.
Điều trị dài hạn (ít nhất 48 tuần)
Tỷ lệ bệnh nhân gặp tác dụng phụ có ảnh hưởng đáng kể trên lâm sàng: tăng cân, tăng nồng độ glucose, tăng cholesterol hoặc triglycerides tổng / LDL / HDL tăng theo thời gian. Ở người lớn đã điều trị 9-12 tháng, tỷ lệ tăng đường huyết trung bình chậm lại sau khoảng 6 tháng.
Thông tin thêm cho nhóm bệnh nhân đặc biệt
Trong các thử nghiệm lâm sàng ở bệnh nhân cao tuổi bị bệnh sa sút trí tuệ, điều trị bằng olanzapine gây tỷ lệ tử vong và các phản ứng bất lợi trên mạch máu não cao hơn so với giả dược (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng). Các tác dụng bất lợi rất thường gặp do sử dụng olanzapine ở những bệnh nhân này là bất thường dáng đi và ngã. Viêm phổi, sốt, hôn mê, ban đỏ, ảo giác và tiểu tiện không tự chủ thường xuyên xảy ra.
Trong các thử nghiệm lâm sàng ở bệnh nhân loạn thần do thuốc (chất chủ vận dopamine) liên quan đến bệnh Parkinson, sự trầm trọng hơn các triệu chứng của bệnh Parkinson và ảo giác đã được báo cáo xảy ra rất thường xuyên và nhiều hơn so với giả dược.
Trong một thử nghiệm lâm sàng ở bệnh nhân hưng cảm lưỡng cực, điều trị kết hợp valproate và olanzapine dẫn đến giảm bạch cầu trung tính với tỷ lệ 4,1%, một yếu tố có thể dẫn đến tăng nồng độ valproate trong huyết tương. Olanzapine sử dụng đồng thời với lithi hoặc valproate dẫn đến tăng (≥ 10%) hiện tượng run, khô miệng, thèm ăn và tăng cân. Rối loạn ngôn ngữ cũng đã được báo cáo xảy ra thường xuyên. Trong quá trình điều trị bằng olanzapine kết hợp với lithi hay divalproex, sự tăng ≥ 7% so với trọng lượng cơ thể ban đầu xảy ra ở 17,4% số bệnh nhân trong giai đoạn điều trị cấp tính (đến 6 tuần). Điều trị dài hạn bằng Olanzapine (đến 12 tháng) để phòng ngừa tái phát ở những bệnh nhân rối loạn lưỡng cực làm tăng ≥ 7% so với trọng lượng cơ thể ban đầu xảy ra ở 39,9% số bệnh nhân.
Trẻ em
Olanzapine không được chỉ định điều trị cho trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi. Mặc dù không có nghiên cứu lâm sàng được tiến hành để so sánh việc dùng thuốc cho thanh thiếu niên với người lớn, dữ liệu từ các thử nghiệm cho thanh thiếu niên được so sánh với các thử nghiệm của người trưởng thành. Bảng sau đây tóm tắt các phản ứng bất lợi ở thanh thiếu niên (từ 13-17 tuổi) với tần suất xuất hiện cao hơn so với người lớn hoặc các phản ứng bất lợi chỉ xảy ra trong thử nghiệm lâm sàng ngắn hạn ở thanh thiếu niên. Tăng cân đáng kể có ý nghĩa lâm sàng (≥ 7%) dường như xảy ra thường xuyên hơn ở thanh thiếu niên so với người lớn với cùng thời gian dùng thuốc. Khi dùng thuốc dài hạn (ít nhất 24 tuần). mức độ tăng cân và tỷ lệ thanh thiếu niên tăng cân đáng kể cao hơn so với khi dùng thuốc ngắn hạn. Trong mỗi nhóm tần suất, phản ứng bất lợi được trình bày theo thứ tự mức độ nghiêm trọng giảm dần. Các thuật ngữ tần suất được liệt kê được quy định như sau: rất thường xuyên (≥ 1/10); thường xuyên (≥ 1/100 đến <1/10).
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng
Rất thường xuyên: Tăng cân9, tăng nồng độ triglyceride 10, thèm ăn.
Thường xuyên: Tăng nồng độ cholesterol11.
Rối loạn hệ thần kinh
Rất thường xuyên. An thần (bao gồm: buồn ngủ triền miên, hôn mê, ngủ gà).
Rối loạn tiêu hóa
Thường xuyên: Khô miệng.
Rối loạn gan mật
Rất thường xuyên: Tăng các aminotransferase gan (ALT/AST; xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng).
Các xét nghiệm cận lâm sàng
Rất thường xuyên: Giảm bilirubin tổng, tăng GGT, tăng nồng độ prolactin trong huyết thanh12
9Sau điều trị ngắn hạn (thời gian trung bình 22 ngày) tăng cân ≥ 7% trọng lượng cơ thể ban đầu (kg) xảy ra rất thường xuyên (tỷ lệ 40,6%), tăng ≥ 15% trọng lượng cơ thể ban đầu thường xuyên xảy ra (tỷ lệ 7,1%) và tăng ≥ 25% trọng lượng cơ thể ban đầu thường xuyên xảy ra (tỷ lệ 2,5%). Khi điều trị dài hạn (ít nhất 24 tuần), có 89,4% số bệnh nhân tăng ≥ 7% trọng lượng cơ thể ban đầu, 55,3% số bệnh nhân tăng 2 15% và 29,1% số bệnh nhân tăng ≥ 25% trọng lượng cơ thể ban đầu.
10 Quan sát được nồng độ lúc đói ban đầu từ bình thường (< 1,016 mmol/l) tăng lên mức cao (≥ 1,467 mmol/l) và những thay đổi nồng độ triglyceride lúc đói từ giới hạn ban đầu (≥ 1,016 mmol/l đến < 1,467 mmol/l) lên mức cao (≥ 1,467 mmol/l).
11 Thay đổi nồng độ cholesterol toàn phần lúc đói ban đầu từ bình thường (< 4,39 mmol/l) tăng lên mức cao (≥ 5,17 mmol /l) thường xuyên xảy ra . Thay đổi nồng độ cholesterol toàn phần lúc đói từ giới hạn ban đầu (≥ 4,39 đến < 5,17 mmol/l) lên mức cao (≥ 5,17 mmol/l) xảy ra rất thường xuyên.
12 Tăng nồng độ prolactin trong huyết thanh được báo cáo xảy ra ở 47,4% số bệnh nhân vị thành niên.
Thông báo cho bác sĩ các tác dụng không mong muốn bạn gặp phải khi sử dụng thuốc.
8. Tương tác thuốc
Trẻ em
Các nghiên cứu về tương tác mới chỉ được tiến hành trên người lớn.
Các thuốc có thể ảnh hưởng đến olanzapine:
Do olanzapine được chuyển hóa bởi CYP1A2, các thuốc có thể gây cảm ứng hoặc ức chế isoenzym này có thể gây ảnh hưởng đến dược động học của olanzapine.
Cảm ứng CYP1A2
Sự chuyển hóa của olanzapine có thể được cảm ứng bởi hút thuốc và carbamazepine, dẫn đến giảm nồng độ olanzapine. Thanh thải olanzapine chỉ tăng ở mức độ nhẹ hoặc vừa. Ảnh hưởng trên lâm sàng có thể rất ít nhưng cần tiến hành theo dõi lâm sàng và tăng liều olanzapine nếu cần thiết (xem mục Liều dùng và cách dùng).
Ức chế CYP1A2
Fluvoxamine, một chất ức chế CYP1A2 đặc hiệu, đã được chứng minh ức chế đáng kể sự chuyển hóa của olanzapine. Sau khi sử dụng fluvoxamine, nồng độ Cmax của olanzapine tăng trung bình là 54% ở phụ nữ không hút thuốc và 77% ở nam giới hút thuốc lá. AUC của olanzapine tăng trung bình tương ứng là 52% và 108%. Nên cân nhắc dùng olanzapine với liều khởi đầu thấp hơn cho những bệnh nhân đang sử dụng fluvoxamine hoặc bất kỳ thuốc ức chế CYP1A2 khác, chẳng hạn như ciprofloxacin. Nên xem xét giảm liều olanzapine nếu sử dụng đồng thời với một thuốc ức chế CYP1A2.
Giảm sinh khả dụng
Than hoạt làm giảm 50 đến 60% sinh khả dụng của olanzapine đường uống, nên dùng than hoạt ít nhất 2 giờ trước khi hoặc sau khi dùng olanzapine.
Fluoxetine (một chất ức chế CYP2D6), liều đơn thuốc kháng acid (nhôm, magnesi) hoặc cimetidine không gây ảnh hưởng đáng kể đến dược động học của olanzapine.
Olanzapine có thể ảnh hưởng đến các thuốc khác
Olanzapine có thể đối kháng với tác dụng của các chất chủ vận dopamine trực tiếp hoặc gián tiếp. Olanzapine không ức chế các isoenzyme CYP450 trong in vitro (chẳng hạn như 1A2, 2D6, 2C9, 2C19, 3A4) vì vậy Olanzapine được cho là không có tương tác đặc biệt, cũng như đã được xác minh trong các nghiên cứu in vivo, không gây ức chế chuyển hóa các thuốc sau: Thuốc chống trầm cảm ba vòng (đại diện cho con đường chuyển hóa chủ yếu qua CYP2D6), warfarin (CYP2C9), theophylline (CYP1A2), hoặc diazepam (CYP3A4 và 2C19).
Olanzapine không có tương tác khi sử dụng đồng thời với lithi hoặc biperiden.
Theo dõi nồng độ valproate trong khi điều trị cho thấy không cần điều chỉnh liều valproate khi dùng đồng thời với olanzapine.
Tác dụng trên hệ thần kinh trung ương
Cần thận trọng khi dùng thuốc cho bệnh nhân có uống rượu hoặc sử dụng các thuốc khác có thể gây ức chế hệ thần kinh trung ương.
Không nên dùng đồng thời olanzapine với các thuốc điều trị Parkinson ở bệnh nhân mắc bệnh Parkinson và sa sút trí tuệ (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng).
Đoạn QT
Thận trọng khi dùng đồng thời olanzapine và các thuốc đã được biết gây kéo dài đoạn QT (xem mục Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng).
9. Thận trọng khi sử dụng
Trong điều trị rối loạn tâm thần, sự cải thiện tình trạng lâm sàng của bệnh nhân có thể cần thời gian vài ngày đến vài tuần. Bệnh nhân cần phải được theo dõi chặt chẽ trong thời gian này.
Rối loạn tâm thần do sa sút trí tuệ và/hoặc rối loạn hành vi.
Olanzapine không được phê duyệt trong điều trị rối loạn tâm thần do sa sút trí tuệ và/hoặc rối loạn hành vi và không được khuyến cáo sử dụng cho nhóm bệnh nhân này do làm tăng tỷ lệ tử vong và nguy cơ tai biến mạch máu não. Trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát giả dược (kéo dài 6-12 tuần) trên người già (trung bình 78 tuổi) bị rối loạn tâm thần do sa sút trí tuệ và/hoặc rối loạn hành vi, tỷ lệ tử vong ở nhóm bệnh nhân điều trị bằng Olanzapine cao gấp 2 lần nhóm dùng giả dược (tương ứng là 3,5% so với 1,5%). Tỷ lệ tử vong cao hơn không liên quan đến liều dùng của olanzapine (liều trung bình hàng ngày 4,4 mg) hoặc thời gian điều trị. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến tăng tỷ lệ tử vong ở nhóm bệnh nhân này bao gồm: tuổi > 65, khó nuốt, an thần, suy dinh dưỡng và mất nước, bệnh phổi (ví dụ viêm phổi, có hoặc không có hít vào) hoặc sử dụng đồng thời các thuốc benzodiazepine. Tuy nhiên tỷ lệ tử vong cao hơn ở những bệnh nhân điều trị bằng olanzapine so với nhóm giả dược độc lập với các yếu tố nguy cơ này.
Cũng trong các thử nghiệm lâm sàng này, các tác dụng không mong muốn trên mạch máu não (như đột quỵ, cơn nhồi máu thoáng qua), bao gồm cả tử vong đã được báo cáo. Tỷ lệ xảy ra các tác dụng không mong muốn trên mạch máu não ở nhóm bệnh nhân điều trị bằng Olanzapine cao gấp 3 lần nhóm bệnh nhân dùng giả dược (tương ứng là 1,3% so với 0,4%). Tất cả các bệnh nhân dùng olanzapine và giả dược gặp tác dụng không mong muốn trên mạch máu não đều có yếu tố nguy cơ từ trước. Tuổi trên 75 và sa sút trí tuệ sau đột quỵ/ sa sút trí tuệ hỗn hợp được xác định là các yếu tố nguy cơ gây ra các tác dụng bất lợi trên mạch máu não khi điều trị bằng olanzapine. Hiệu quả của olanzapine chưa được xác định trong các thử nghiệm này.
Bệnh Parkinson
Việc dùng olanzapine trong điều trị loạn thần liên quan đến chủ vận dopamin ở bệnh nhân bị bệnh Parkinson không được khuyến cáo. Trong các thử nghiệm lâm sàng, các triệu chứng bệnh Parkinson nặng thêm và ảo giác được báo cáo xảy ra rất thường xuyên và xảy ra nhiều hơn so với nhóm đối chứng (xem mục Tác dụng không mong muốn) và olanzapine không đem lại hiệu quả điều trị cao hơn so với nhóm giả dược trong điều trị các triệu chứng loạn thần. Trong các thử nghiệm này, ban đầu bệnh nhân được sử dụng các thuốc chống Parkinson (chủ vận dopamin) với liều thấp nhất có hiệu quả để ổn định bệnh và duy trì các thuốc này với chế độ liều trên trong suốt thời gian nghiên cứu. Olanzapine được dùng với liều khởi đầu 2,5 mg/ngày và được chuẩn liều đến liều tối đa 15 mg/ngày.
Hội chứng an thần kinh ác tính
Hội chứng an thần kinh ác tính là tình trạng có khả năng đe dọa tính mạng người bệnh liên quan đến điều trị bằng thuốc chống loạn thần. Hiếm có báo cáo về trường hợp hội chứng an thần kinh ác tính liên quan đến olanzapine. Những biểu hiện lâm sàng của hội chứng an thần kinh ác tính là sốt cao, cứng cơ, trạng thái tâm thần thay đổi và có biểu hiện không ổn định của hệ thần kinh thực vật (mạch hoặc huyết áp không đều, nhịp tim nhanh, toát mồ hôi, loạn nhịp tim). Các dấu hiệu khác bao gồm tăng creatinine phosphokinase, myoglobin niệu (tiêu cơ vân) và suy thận cấp. Cần ngừng ngay tất cả các loại thuốc chống loạn thần, kể cả olanzapine, khi bệnh nhân có các biểu hiện và triệu chứng của hội chứng an thần kinh ác tính hoặc khi có sốt cao không rõ nguyên nhân mà không có các biểu hiện lâm sàng của hội chứng an thần kinh ác tính.
Tăng đường huyết và tiểu đường
Hiếm khi xảy ra tăng đường huyết và/ hoặc làm trầm trọng bệnh tiểu đường, đôi khi kèm theo nhiễm ceton acid hoặc hôn mê, bao gồm cả một vài trường hợp tử vong (xem mục Tác dụng không mong muốn). Trong một số trường hợp, tăng cân đã được báo cáo, đó có thể là một yếu tố dẫn đến tăng đường huyết. Bệnh nhân cần được theo dõi lâm sàng phù hợp theo hướng dẫn sử dụng các thuốc chống loạn thần, chẳng hạn đo đường huyết khi bắt đầu, sau 12 tuần điều trị bằng olanzapine và mỗi năm sau đó. Bệnh nhân điều trị bằng các thuốc chống loạn thần, bao gồm cả olanzapine, cần được theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng của tăng đường huyết (như khát nhiều, đi tiểu nhiều, ăn nhiều, và yếu mệt) và bệnh nhân bị đái tháo đường hoặc có các yếu tố nguy cơ của đái tháo đường cần được theo dõi thường xuyên để kiểm soát đường huyết. Cần kiểm tra cân nặng thường xuyên, chẳng hạn khi bắt đầu, sau 4, 8 và 12 tuần điều trị bằng olanzapine và mỗi quý sau đó.
Thay đổi nồng độ lipid
Thay đổi nồng độ lipid theo hướng bất lợi đã được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát giả dược (xem mục Tác dụng không mong muốn). Cần kiểm soát lipid một cách phù hợp, đặc biệt ở những bệnh nhân rối loạn lipid và ở những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ gây rối loạn lipid. Bệnh nhân điều trị bằng bất kỳ thuốc chống loạn thần nào, kể cả Egolanza, cần được theo dõi thường xuyên nồng độ lipid theo hướng dẫn sử dụng các thuốc chống loạn thần, chẳng hạn khi bắt đầu, sau 12 tuần điều trị bằng Olanzapine và mỗi 5 năm sau đó.
Tác dụng chống tiết cholin
Olanzapine thể hiện hoạt tính kháng cholinergic trên in vitro, nhưng trong các thử nghiệm lâm sàng các triệu chứng liên quan xuất hiện với tỷ lệ thấp. Tuy nhiên, do kinh nghiệm lâm sàng sử dụng olanzapine ở những bệnh nhân có các bệnh kèm theo còn ít, nên thận trọng khi kê đơn Olanzapine cho bệnh nhân phì đại tuyến tiền liệt, tắc liệt ruột và các tình trạng liên quan.
Chức năng gan
Các aminotransferase gan, alanine transferase (ALT), aspartate transferase (AST) đôi khi tăng thoáng qua, không có biểu hiện triệu chứng, đặc biệt ở giai đoạn đầu của quá trình điều trị. Cần thận trọng theo dõi các bệnh nhân có tăng ALT và/hoặc AST, bệnh nhân có các dấu hiệu và triệu chứng của suy gan, bệnh nhân đã có sẵn tình trạng chức năng gan bị hạn chế và bệnh nhân đang dùng các thuốc có độc tính trên gan. Trong trường hợp bệnh nhân đã được chẩn đoán viêm gan (bao gồm cả tổn thương tế bào gan, ứ mật hoặc kết hợp, cần ngừng điều trị bằng Olanzapine.
Giảm bạch cầu trung tính
Thận trọng khi dùng thuốc cho những bệnh nhân có số lượng bạch cầu và/hoặc bạch cầu trung tính thấp do bất kỳ nguyên nhân nào, bệnh nhân có tiền sử ức chế/ngộ độc tủy xương do thuốc, người bệnh có ức chế tủy xương do bệnh kèm theo, xạ trị liệu hoặc hóa trị liệu và người bệnh bị tăng bạch cầu ưa eosin hoặc bệnh tăng sinh tủy xương. Giảm bạch cầu trung tính được báo cáo xảy ra thường xuyên khi sử dụng đồng thời olanzapine và valproate (xem mục Tác dụng không mong muốn).
Ngừng điều trị
Các triệu chứng cấp tính như toát mồ hôi, mất ngủ, rùng mình, lo âu, buồn nôn hoặc nôn hiếm khi xảy ra (tỷ lệ < 0,01%) khi ngừng sử dụng olanzapine đột ngột.
Đoạn QT
Trong các thử nghiệm lâm sàng, kéo dài đoạn QT có ý nghĩa lâm sàng (QTcF ≥ 500 mili giây tại bất kỳ thời gian nào sau thời gian ban đầu ở bệnh nhân có QTcF ban đầu < 500 mili giây) không thường xuyên xảy ra (tỷ lệ 0,1% đến 1%) ở bệnh nhân điều trị bằng olanzapine, không có sự khác biệt đáng kể liên quan đến hoạt động của tim so với nhóm đối chứng. Tuy nhiên, cũng như đối với các thuốc chống loạn thần khác, thận trọng khi dùng olanzapine đồng thời với các thuốc được biết là làm tăng khoảng QT, đặc biệt ở người già hoặc ở những bệnh nhân có hội chứng kéo dài đoạn QT bẩm sinh, suy tim sung huyết, phì đại tim, hạ kali máu hoặc hạ magnesi máu.
Huyết khối tắc mạch
Sự liên quan giữa việc điều trị bằng olanzapine và huyết khối tĩnh mạch xảy ra không thường xuyên (tỷ lệ ≥ 0,1% và < 1%). Mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng huyết khối tĩnh mạch và việc điều trị bằng olanzapine chưa được xác định. Tuy nhiên, do những bệnh nhân bị tâm thần phân liệt thường có các yếu nguy cơ của huyết khối tĩnh mạch, nên cần phải xác định và có biện pháp phòng ngừa tất cả các yếu tố nguy cơ của huyết khối tĩnh mạch, ví dụ sự không vận động của bệnh nhân.
Tác dụng trên hệ thần kinh trung ương
Vì olanzapine có tác dụng chủ yếu trên hệ thần kinh trung ương, nên cần thận trọng khi dùng kết hợp với các thuốc khác cũng tác dụng trên thần kinh trung ương và rượu. Vì olanzapine thể hiện tính đối kháng với dopamine trên in vitro nên olanzapine có thể đối kháng với tác dụng của các chất chủ vận dopamine gián tiếp và trực tiếp.
Động kinh
Cần thận trọng khi dùng Olanzapine cho bệnh nhân có tiền sử động kinh hoặc có các yếu tố làm giảm ngưỡng động kinh. Động kinh hiếm khi xảy ra ở bệnh nhân điều trị bằng olanzapine. Đa phần những người bệnh này có tiền sử động kinh hoặc có các yếu tố nguy cơ của bệnh động kinh.
Loạn vận động muộn
Trong các nghiên cứu so sánh trong thời gian 1 năm hoặc ít hơn, tỷ lệ biến chứng loạn vận động ở bệnh nhân điều trị bằng olanzapine thấp hơn con số có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, nguy cơ loạn vận động muộn tăng lên khi dùng thuốc trong thời gian dài, nên cần giảm liều hoặc ngừng thuốc khi thấy các dấu hiệu hoặc triệu chứng của loạn vận động muộn. Các triệu chứng này có thể nặng lên theo thời gian hoặc thậm chí xuất hiện sau khi ngừng điều trị.
Hạ huyết áp tư thế
Trong các thử nghiệm lâm sàng, hạ huyết áp tư thế ít khi xảy ra ở người lớn tuổi. Cũng như đối với các thuốc chống loạn thần khác, nên đo huyết áp định kỳ ở những bệnh nhân trên 65 tuổi.
Chết tim đột ngột
Trong các báo cáo hậu mãi sử dụng olanzapine, hiện tượng chết tim đột ngột đã được báo cáo xảy ra ở bệnh nhân điều trị bằng olanzapine. Trong một nghiên cứu hồi cứu quan sát, nguy cơ chết tim đột ngột ở những bệnh nhân được điều trị bằng olanzapine cao khoảng gấp đôi so với những bệnh nhân không sử dụng thuốc chống loạn thần. Trong nghiên cứu này, nguy cơ của olanzapine được so sánh với nguy cơ của thuốc chống loạn thần không điển hình trong một phân tích gộp.
Dùng thuốc cho trẻ em
Olanzapine không được chỉ định dùng cho trẻ em và thanh thiếu niên. Các nghiên cứu ở những bệnh nhân từ 13-17 tuổi cho thấy nhiều phản ứng bất lợi, bao gồm tăng cân, thay đổi các thông số chuyển hóa và tăng nồng độ prolactin. Hậu quả lâu dài của những tác dụng này chưa được nghiên cứu và vẫn chưa được biết (xem mục Tác dụng không mong muốn và Dược lực học).
Lactose
Viên nén Egolanza chứa lactose. Bệnh nhân bị không dung nạp galactose do di truyền, thiếu hụt Lapp lactase hoặc kém hấp thu glucose-galactose không nên dùng thuốc này.
10. Dùng cho phụ nữ có thai và cho con bú
Phụ nữ có thai
Chưa có các nghiên cứu đầy đủ và có kiểm soát trên phụ nữ có thai. Bệnh nhân cần được hướng dẫn để thông báo cho bác sĩ biết nếu có thai hoặc dự định có thai trong quá trình điều trị bằng olanzapine. Tuy nhiên, do kinh nghiệm dùng thuốc cho phụ nữ có thai còn hạn chế nên chỉ dùng olanzapine cho phụ nữ có thai khi đã cân nhắc lợi ích của việc điều trị và nguy cơ có thể xảy ra đối với thai nhi.
Trẻ sơ sinh tiếp xúc với thuốc chống loạn thần (bao gồm cả olanzapine) trong ba tháng cuối của thai kỳ có nguy cơ xảy ra các phản ứng phụ bao gồm cả triệu chứng ngoại tháp và/ hoặc cai thuốc, các phản ứng này có thể khác nhau về mức độ nặng nhẹ và thời gian kéo dài sau khi sinh. Đã có báo cáo xảy ra kích động, tăng trương lực, giảm trương lực, run, ngủ gà, suy hô hấp, hoặc rối loạn ăn uống. Do đó, trẻ sơ sinh cần được theo dõi cẩn thận.
Phụ nữ cho con bú
Trong một nghiên cứu trên phụ nữ khỏe mạnh cho con bú, olanzapine được tiết vào sữa mẹ. Nồng độ olanzapine trung bình ở trẻ bú mẹ (tính theo mg/kg thể trọng) ở trạng thái ổn định bằng khoảng 1,8% nồng độ thuốc trong cơ thể mẹ (tính theo mg/kg thể trọng). Bệnh nhân không nên cho con bú khi đang sử dụng olanzapine.
11. Ảnh hưởng của thuốc Egolanza lên khả năng lái xe và vận hành máy móc
Chưa có các nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. Do olanzapine có thể gây buồn ngủ và chóng mặt, bệnh nhân cần thận trọng khi vận hành máy móc và xe gắn máy.
12. Quá liều
Dấu hiệu và triệu chứng
Các triệu chứng thường gặp khi quá liều (tỷ lệ > 10%) bao gồm nhịp tim nhanh, kích động/gây gổ, loạn vận ngôn, các biểu hiện ngoại tháp và giảm ý thức mức độ khác nhau từ an thần đến hôn mê.
Các triệu chứng khác của quá liều bao gồm mê sảng, co giật, hôn mê, hội chứng an thần kinh ác tính, suy hô hấp, thở dốc, tăng huyết áp hoặc hạ huyết áp, rối loạn nhịp tim (tỷ lệ < 2% các trường hợp dùng quá liều) và ngưng tim phổi. Tử vong đã được báo cáo xảy ra khi quá liều cấp tính ở liều thấp là 450mg, nhưng bệnh nhân sống sót cũng đã được báo cáo sau khi uống quá liều cấp tính khoảng 2g olanzapine.
Xử trí quá liều
Không có thuốc giải độc đặc hiệu cho olanzapine. Gây nôn không được khuyến cáo. Có thể áp dụng các biện pháp điều trị quá liều thông thường (như rửa dạ dày, uống than hoạt tính). Sử dụng than hoạt tính được chứng minh làm giảm sinh khả dụng đường uống của olanzapine 50 đến 60%. Cần điều trị triệu chứng và theo dõi chức năng các cơ quan căn cứ trên biểu hiện lâm sàng, bao gồm cả điều trị hạ huyết áp và trụy tuần hoàn và hỗ trợ chức năng hô hấp. Không dùng epinephrine, dopamine, hoặc các thuốc cường giao cảm khác có tác dụng chủ vận bêta do việc kích thích bêta có thể làm nặng thêm tình trạng hạ huyết áp. Theo dõi tim mạch để phát hiện chứng loạn nhịp tim. Tiếp tục theo dõi cẩn thận cho đến khi bệnh nhân hồi phục.
Trẻ em
Chưa có các dữ liệu quá liều ở trẻ em và thanh thiếu niên.
13. Bảo quản
Bảo quản thuốc Egolanza ở nhiệt độ dưới 30 độ C ở nơi khô ráo, tránh ẩm.
Không để thuốc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.
Không dùng thuốc Egolanza quá hạn ghi trên bao bì.
14. Mua thuốc Egolanza ở đâu?
Hiện nay, Egolanza là thuốc kê đơn, vì vậy bạn cần nói rõ các triệu chứng của bệnh nhân để được nhân viên y tế tư vấn và hỗ trợ. Thuốc có bán tại các bệnh viện hoặc các nhà thuốc lớn.
Mọi người nên tìm hiểu thông tin nhà thuốc thật kỹ để tránh mua phải hàng giả, hàng kém chất lượng, ảnh hưởng đến quá trình điều trị.
Nếu mọi người ở khu vực Hà Nội có thể mua thuốc có sẵn ở nhà thuốc Thanh Xuân 1 - địa chỉ tại Số 1 Nguyễn Chính, phường Tân Mai, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Ngoài ra, mọi người cũng có thể gọi điện hoặc nhắn tin qua số hotline của nhà thuốc là: 0325095168 - 0387651168 hoặc nhắn trên website nhà thuốc để được nhân viên tư vấn và chăm sóc tận tình.
15. Giá bán
Giá bán thuốc Egolanza trên thị trường hiện nay dao động trong khoảng tùy từng địa chỉ mua hàng và giá có thể giao động tùy thời điểm. Mọi người có thể tham khảo giá tại các nhà thuốc khác nhau để mua được thuốc đảm bảo chất lượng và giá thành hợp lý nhất.
“Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, mọi người nên đến thăm khám và hỏi ý kiến bác sĩ có kiến thức chuyên môn để sử dụng an toàn và hiệu quả.”