1. Thuốc Irinotel 100mg/5ml là thuốc gì?
Irinotel 100mg/5ml được sản xuất bởi Fresenius Kabi với thành phần hoạt chất chính Irinotecan hydroclorid trihydrat, được chỉ định trong điều trị cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng tiến triển.
2. Thành phần thuốc Irinotel 100mg/5ml
Mỗi lọ 5mI dung dịch chứa 100mg irinotecan hydroclorid trihydrat.
Tá dược: Sorbitol, acid lactic, acid hydrocloric, natri hydroxid, nước cất pha tiêm vừa đủ.
3. Dạng bào chế
Dung dịch tiêm truyền.
4. Chỉ định
-
Irinotecan được chỉ định trong điều trị cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng tiến triển.
- Kết hợp với 5-fluorouracil (5-FU) và axit folinic (FA) ở những bệnh nhân ung thư tiến triển chưa được hóa trị trước đó.
- Sử dụng đơn độc ở những bệnh nhân chưa thành công với phác đồ điều trị có chứa 5-FU.
-
Irinotecan kết hợp với cetuximab được chỉ định trong điều trị cho bệnh nhân với sự xuất hiện thụ thể của yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) bị ung thư đại trực tràng di căn (gen KRAS tuýp tự nhiên) mà chưa được điều trị trước khi di căn hoặc sau khi thất bại với liệu trình gây độc tế bào có chứa irinotecan.
-
Irinotecan kết hợp với 5-FU, FA và bevacizumab được chỉ định là lựa chọn đầu tay trong điều trị cho bệnh nhân ung thư biểu mô đại tràng hoặc trực tràng.
-
Irinotecan kết hợp với capecitabin, có hoặc không có bevacizumab được chỉ định là lựa chọn đầu tay trong điều trị cho bệnh nhân ung thư đại trực tràng di căn.
5. Liều dùng
Thuốc chỉ dùng cho người lớn. Dung dich irinotecan sau khi được pha để truyền nên được truyền vào tĩnh mạch trung tâm hoặc tĩnh mạch ngoại vi.
Liều dùng khuyến cáo
Trong đơn trị liệu (ở bệnh nhân đã điều trị trước đó):
Liều khuyến cáo của irinotecan là 350mg/m² dưới dạng truyền tĩnh mạch trong thời gian từ 30 đến 90 phút, cứ mỗi ba tuần một lần.
Trong liệu pháp phối hợp (ở bệnh nhân chưa điều trị trước đó):
Sự an toàn và hiệu quả của irinotecan kết hợp với 5-fluorouracil (5-FU) và folinic acid (FA) được đánh giá theo lịch trình sau:
-
Irinotecan kết hợp với 5-FU/ FA, cứ mỗi 2 tuần.
Liều khuyến cáo của irinotecan là 180mg/m² mỗi tuần một lần, dưới dạng truyền tĩnh mạch, trong khoảng thời gian 30 đến 90 phút, sau đó truyền FA va 5-FU.
Khi dùng đồng thời với cetuximab, liều lượng và cách dùng xem hướng dẫn sử dụng dành cho sản phẩm này. Thông thường, liều irinotecan tương đương sẽ được sử dụng như là đã được sử dụng trong các chu kỳ cuối cùng của chế độ trước đó chứa irinotecan. Không nên ding irinotecan trong vòng 1 giờ sau khi truyền cetuximab.
Khi dùng đồng thời với bevacizumab, liều lượng và cách dùng xem hướng dẫn sử dụng dành cho sản phẩm này.
Khi dùng đồng thời với capecitabin, liều lượng và cách dùng xem hướng dẫn sử dụng dành cho sản phẩm này.
Hiệu chỉnh liều lượng
Irinotecan nên được dùng sau khi các tác dụng phụ đã được phục hồi về mức 0 hoặc 1 theo NCI - CTC (Viện ung thư quốc gia Mỹ — Tiêu chuẩn độc tính chung) và triệu chứng tiêu chảy liên quan đến việc điều trị đã được giải quyết triệt để.
Khi bắt đầu liệu trình điều trị tiếp theo, có thể giảm liều irinotecan và 5-FU theo từng cá thể, nên giảm liều tùy theo mức độ nghiêm trọng nhất của các tác dụng phụ đã quan sát được trước đó. Việc điều trị nên được trì hoãn trong 1-2 tuần để người bệnh phục hồi các tác dụng phụ liên quan đến điều trị.
Nên giảm liều từ 15 đến 20% so với irinotecan và/ hoặc 5-FU khi có các tác dụng phụ sau đây:
-
Độc tính về huyết học như giảm bạch cầu trung tính độ 4, sốt giảm bạch cầu (giảm bạch cầu trung tính độ 3-4 và sốt độ 2-4), giảm tiểu cầu và giảm bạch cầu độ 4.
-
Độc tính không phải huyết học (độ 3-4).
Khi phối hợp với cetuximab, cần hiệu chỉnh liều theo hướng dẫn sử dụng của cetuximab.
Khi phối hợp bevacizumab với irinotecan/ 5-FU/ FA, cần hiệu chỉnh liều theo hướng 3dẫn sử dụng của bevacizumab.
Nếu dùng phối hợp với capecitabin trên bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên, khuyến cáo nên giảm liều khỏi đầu của capecitabin xuống 800mg/m² mỗi ngày 2 lần, theo hướng dẫn sử dụng của capecitabin. Xem thêm các khuyến cáo về hiệu chỉnh liều trong phác đồ phối hợp trong hướng dẫn sử dụng của capecitabin.
Thời gian điều trị
Việc điều trị bằng irinotecan nên được tiếp tục cho đến khi có hiệu quả điều trị hoặc đến ngưỡng độc tính cho phép.
Sử dụng ở các đối tượng đặc biệt
Bệnh nhân suy giảm chức năng gan
Đơn trị liệu: Mức bilirubin (tối đa 3 lần giới hạn trên của bình thường [ULN]) ở bệnh nhân có chỉ số toàn trạng theo WHO ≤ 2 nên xác định liều khởi đầu của irinotecan. Ở những bệnh nhân tăng bilirubin máu và thời gian prothrombin trên 50%, độ thanh thải của irinotecan giảm và do đó nguy cơ độc tính về huyết học tăng lên. Do đó, cần theo dõi công thức máu hàng tuần ở quần thể bệnh nhân này.
-
Ở bệnh nhân có nồng độ bilirubin gấp 1,5 lần so với ULN, liều khuyến cáo của irinotecan là 350mg/m2.
-
Ở bệnh nhân có nồng độ bilirubin từ 1,5 đến 3 lần so với ULN, liều khuyến cáo của irinotecan là 200mg/m2.
-
Bệnh nhân có nồng độ bilirubin trên 3 lần so với ULN, không nên điều trị với irinotecan.
Liệu pháp phối hợp: Không có dữ liệu cho bệnh nhân suy giảm chức năng gan được điều trị bằng irinotecan trong liệu pháp phối hợp.
Bệnh nhân suy giảm chức năng thận
Irinotecan không được khuyến cáo sử dụng ở bệnh nhân bị suy giảm chức năng thận, vì sản phẩm chưa được nghiên cứu trong nhóm bệnh nhân này.
Người cao tuổi
Không có nghiên cứu dược động học cụ thể nào được thực hiện ở người cao tuổi. Tuy nhiên, liều dùng nên được lựa chọn cẩn thận trong nhóm bệnh nhân này do giảm chức năng sinh học của cơ thể. Nhóm dân số này cần được giám sát chặt chẽ hơn.
Cách pha dung dịch tiêm truyền
Cần pha loãng dung dịch irinotecan trước khi tiêm truyền. Pha loãng irinotecan trong dung dịch NaCl 0,9% hoặc Glucose 5% thành dung dịch có nồng độ từ 0,12-2,8mg/ml.
6. Chống chỉ định
- Bệnh nhân mẫn cảm với irinotecan hoặc các thành phần khác của thuốc.
- Bệnh viêm ruột mạn tính và/hoặc tắc ruột.
- Phụ nữ cho con bú.
- Bilirubin > 3 lần ULN (giới hạn trên của phạm vi bình thường).
- Suy tủy xương nặng.
- Chỉ số toàn trạng theo WHO > 2.
- Sử dụng đồng thời với St.John's Wort.
7. Tác dụng phụ
Các dữ liệu về tác dụng không mong muốn được thu thập từ nghiên cứu trên bệnh nhân ung thư đại trực tràng di căn. Các tác dụng không mong muốn cho các chỉ định khác dự kiến sẽ tương tự như với ung thư đại trực tràng.
Tác dụng không mong muốn thường gặp nhất (≥ 1/10) là tiêu chảy khởi phát muộn (24 giờ sau khi dùng thuốc) và rối loạn máu bao gồm giảm bạch cầu, thiếu máu và giảm tiểu cầu.
Giảm bạch cầu trung tính là một tác dung độc có giới hạn liều. Giảm bạch cầu trung tính có thể đảo ngược và không tích lũy; Thời gian xuất hiện triệu chứng trung bình là 8 ngày dù sử dụng dơn trị hoặc liệu pháp phối hợp.
Hội chứng cường phó giao cảm cấp tính nghiêm trọng rất thường gặp đã được quan sát. Các triệu chứng chính là tiêu chảy khởi phát sớm và các triệu chứng khác như đau bụng, để mồ hôi, ho và tăng tiết nước bọt xây ra trong lúc truyền hoặc trong 24 giờ đầu sau khi truyền irinotecan. Các triệu chứng này biến mất sau khi dùng atropin.
Đơn trị liệu
Các tác dụng không mong muốn sau đây được xem là có hoặc có thể liên quan đến việc dùng irinotecan đã được báo cáo từ 765 bệnh nhân ở liều khuyến cáo 350mg/m² trong đơn trị liệu. Trong mỗi nhóm tần số, tác dụng không mong muốn được trình bày theo thứ tự giảm dẫn. Các tần số được định nghĩa là: rất phổ biến (≥ 1/10), phổ biến (≥ 1/100 đến < 1/10), ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100), hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000) và rất hiếm (< 1/10.000).
|
Tác dụng không mong muốn khi sử dụng irinotecan đơn trị liệu (350mg/m² cứ mỗi 3 tuần) |
||
|
Hệ cơ quan |
Tần số |
Biểu hiện |
|
Nhiễm trùng và ký sinh trùng |
Phổ biến |
Nhiễm trùng |
|
Rối loạn máu và hệ bạch huyết |
Rất phổ biến |
Giảm bạch cầu trung tính, thiếu máu |
|
Phổ biến |
Giảm tiểu cầu, sốt giảm bạch cầu |
|
|
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng |
Rất phổ biến |
Chán ăn |
|
Rối loạn hệ thần kinh |
Rất phổ biến |
Hội chứng cường phó giao cảm |
|
Rối loạn hệ tiêu hóa |
Rất phổ biến |
Tiêu chảy, buồn nôn và nôn, đau bụng |
|
Phổ biến |
Táo bón |
|
|
Rối loạn da và mô dưới da |
Rất phổ biến |
Rụng tóc |
|
Rối loạn chung và phản ứng tại vị trí tiêm |
Rất phổ biến |
Viêm niêm mạc, tăng thân nhiệt, suy nhược |
|
Xét nghiệm |
Phổ biến |
Tăng creatinin máu, transaminase (SGPT và SGOT), bilirubin máu, alkalin phosphat máu |
Liệu pháp phối hợp
Các tác dụng không mong muốn được nêu trong phần này liên quan đến irinotecan.
Không có bằng chứng nào về tính an toàn của irinotecan bị ảnh hưởng bởi cetuximab hoặc ngược lại. Khi phối hợp với cetuximab, các tác dụng không mong muốn được báo cáo thêm là những phản ứng với cetuximab (như 88% xuất hiện mụn trứng cá). Để biết thông tin về tác dụng không mong muốn của irinotecan kết hợp với cetuximab, cũng có thể tham khảo tóm tắt đặc tính sản phẩm của cetuximab.
Khi phối hợp với capecitabin, các tác dụng không mong muốn được báo cáo thêm hoặc có mức tần số cao hơn so với đơn trị liệu capecitabin bao gồm: tắc mạch/huyết khối (rất phổ biến); phản ứng quá mẫn, thiếu máu cục bộ/ nhồi máu cơ tim, sốt giảm bạch cầu độ 3 và 4 (phổ biến).
Các tác dụng không mong muốn độ 3 và 4 ở những bệnh nhân điều trị với capecitabin kết hợp với irinotecan và bevacizumab so với khi dùng đơn trị liệu capecitabin hoặc có tần số cao hơn bao gồm: giảm bạch cầu, tắc mạch/huyết khối, tăng huyết áp, thiếu máu cục bộ/nhồi máu cơ tim (phổ biến). Tham khảo tóm tắt đặc tính sản phẩm của capecitabin để có đầy đủ thông tin về tác dụng không mong muốn của capecitabin và bevacizumab.
Cao huyết áp cấp 3 là nguy cơ đáng kể liên quan đến việc bổ sung bevacizumab vào liệu pháp phối hợp irinotecan/5-FU/FA. Ngoài ra, tiêu chảy và giảm bạch cầu cũng tăng lên mức 3 hoặc 4 ở những bệnh nhân này so với những bệnh nhân dùng liệu pháp irinotecan/5-FU/FA.
Irinotecan đã được nghiên cứu kết hợp với 5-FU và FA cho ung thư đại trực tràng di căn.
Các dữ liệu về an toàn khi nghiên cứu liệu pháp phối hợp irinotecan với 5-FU/FA ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng di căn cho thấy các phản ứng bất lợi độ 3 hoặc 4 rất phổ biến là rối loạn máu và hệ bạch huyết, rối loạn tiêu hóa, rối loạn mô dưới da.
Các tác dụng không mong muốn sau đây được xem là có hoặc có thể liên quan đến việc dùng Irinotecan trong liệu pháp phối hợp với 5-FU/FA với liều khuyến cáo 180mg/m² cứ mỗi 2 tuần được báo cáo từ 145 bệnh nhân.
|
Tác dụng không mong muốn khi sử dụng irinotecan trong liệu pháp phối hợp (180mg/m² cứ mỗi 2 tuần) |
||
|
Hệ cơ quan |
Tần số |
Biểu hiện |
|
Nhiễm trùng và ký sinh trùng |
Phổ biến |
Nhiễm trùng |
|
Rối loạn máu và hệ bạch huyết |
Rất phổ biến |
Giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu, thiếu máu |
|
Phổ biến |
Sốt giảm bạch cầu |
|
|
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng |
Rất phổ biến |
Chán ăn |
|
Rối loạn hệ thần kinh |
Rất phổ biến |
Hội chứng cường phó giao cảm |
|
Rối loạn hệ tiêu hóa |
Rất phổ biến |
Tiêu chảy, buồn nôn và nôn |
|
Phổ biến |
Đau bụng, táo bón |
|
|
Rối loạn da và mô dưới da |
Rất phổ biến |
Rụng tóc |
|
Rối loạn chung và phản ứng tại vị trí tiêm |
Rất phổ biến |
Viêm niêm mạc, suy nhược |
|
Phổ biến |
Tăng thân nhiệt |
|
|
Xét nghiệm |
Rất phổ biến |
Tăng transaminase (SGPT và SGOT), bilirubin máu, alkalin phosphat máu |
Các nghiên cứu khác
Các tác dụng không mong muốn liên quan đến thuốc đã được báo cáo trong các nghiên cứu lâm sàng khác của irinotecan như: đau, nhiễm khuẩn huyết, rối loạn trực tràng, viêm âm đạo, hạ huyết áp, phát ban, phản ứng trên da, dáng đi bất thường, lú lẫn, nhức đầu, ngất, đỏ bừng, nhịp tim chậm, nhiễm trùng đường tiểu, đau thắt ngực, tăng GGTP, giãn phế quản, và hội chứng ly giải khối u, rối loạn tim mạch (đau thắt ngực, ngừng tim, nhồi máu cơ tim, thiếu máu cơ tim, rối loạn mạch máu ngoại vi, rối loạn mạch máu), huyết khối động mạch, nhồi máu não, tai biến mạch máu não, viêm tĩnh mạch huyết khối, đột tử,...).
Báo cáo sau khi thuốc lưu hành
Tần số từ giám sát hậu mãi không được biết đến (không thể ước lượng được từ dữ liệu sẵn có)
|
Hệ cơ quan |
Biểu hiện |
|
Nhiễm trùng và ký sinh trùng |
Viêm đại tràng giả mạc, một trong số đó đã được ghi nhận do vi khuẩn Clostridium difficile. Nhiễm nấm. |
|
Rối loạn máu và hệ bạch huyết |
Xuất huyết giảm tiểu cầu với sự xuất hiện kháng thể kháng tiểu cầu. |
|
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng |
Mất nước (do tiêu chảy và nôn mửa), giảm dung lượng máu. |
|
Rối loạn hệ thống miễn dịch |
Phản ứng quá mẫn, phản ứng phản vệ. |
|
Rối loạn hệ thần kinh |
Rối loạn ngôn ngữ thoáng qua (trong một số trường hợp là do hội chứng cường phó giao cảm quan sát thấy trong hoặc sau khi truyền). Dị cảm. |
|
Rối loạn tim mạch |
Tăng huyết áp (trong hoặc sau khi truyền). Suy tuần hoàn* |
|
Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất |
Bệnh phổi mô kẽ (biểu hiện thâm nhiễm phổi) là không phổ biến; Các tác dụng như khó thở, nấc cụt đã được báo cáo. |
|
Rối loạn hệ tiêu hóa |
Tắc ruột, viêm đại tràng, phình đại tràng, xuất huyết tiêu hóa, viêm đại tràng do loét/ chảy máu/ nhiễm trùng, enzym tụy tăng, thủng ruột. |
|
Rối loạn da và mô dưới da |
Phản ứng trên da |
|
Rối loạn chung và phản ứng tại vị trí tiêm |
Phản ứng tại chỗ tiêm truyền |
|
Xét nghiệm |
Tăng amylase, lipase, nồng độ AST va ALT. Hạ kali máu, hạ huyết áp (chủ yếu do tiêu chảy và nôn). |
|
Rối loạn cơ xương và mô liên kết |
Co cơ, chuột rút |
|
Rối loạn thận và tiết niệu |
Suy thận và suy thận cấp tính thường ở những bệnh nhân bị nhiễm trùng và/ hoặc giảm thể tích máu từ độc tính đường tiêu hóa nghiêm trọng* Thiếu máu thận * |
|
Rối loạn mạch máu |
Hạ huyết áp* |
|
* Các trường hợp hiếm suy thận, hạ huyết áp hoặc suy tuần hoàn tim đã được quan sát thấy ở bệnh nhân bị mất nước liên quan đến tiêu chảy và/hoặc nôn mửa. |
|
Thông báo cho bác sĩ các tác dụng không mong muốn bạn gặp phải khi sử dụng thuốc.
8. Tương tác thuốc
5-fluorouracil (5-FU) và leucovorin (LV):
Trong một nghiên cứu lâm sàng pha 1, bao gồm irinotecan, 5-fluorouracil (5-FU) và leucovorin (LV) ở 26 bệnh nhân có bướu rắn, sự phân bố irinotecan không bị thay đổi khi sử dụng đồng thời các thuốc trên. Mặc dù Cmax và AUC0-24 giờ của SN-38 có giảm (khoảng 14% và 8%) khi 5-FU và LV được truyền sau khi truyền irinotecan so với khi chỉ sử dụng một minh irinotecan, thứ tự truyền dịch này được sử dụng trong các thử nghiệm phối hợp và đã được khuyến cáo. Các nghiên cứu tương tác thuốc chính thức in vivo và in vitro để đánh giá ảnh hưởng của irinotecan trên sự phân bố của 5-FU và LV vẫn chưa được tiến hành.
Các thuốc cảm ứng mạnh CYP3A4:
Ở người lớn và trẻ em, nồng độ irinotecan hoặc chất chuyển hoá có hoạt tính SN-38 giảm đáng kể khi sử dụng đồng thời với thuốc chống co giật cảm ứng enzym CYP3A4 như phenytoin, phenobarbital, carbamazepin, hoặc St.John’s Wort. Liều khởi đầu thích hợp cho bệnh nhân dùng các thuốc cảm ứng mạnh như rifampin và rifabutin chưa được xác định chính thức.
Cần cân nhắc việc thay thế phương pháp điều trị bằng thuốc không gây cảm ứng enzym ít nhất 2 tuần trước khi bắt đầu điều trị bằng irinotecan. Không dùng thuốc cảm ứng CYP3A4 mạnh với irinotecan trừ khi không có phương pháp điều trị thay thế.
Các thuốc ức chế mạnh CYP3A4 hoặc UGT1A1:
Irinotecan và chất chuyên hóa có hoạt tính SN-38 được chuyển hóa qua isoenzym cytocrom P450 3A4 (CYP3A4) và uridin diphosphat-glucuronosyl transferase 1A1 (UGT1A1) tương ứng. Khi dùng đồng thời ketoconazol (một thuốc ức chế CYP3A4 và UGT1A1) sẽ làm tăng nồng độ irinotecan và chất chuyển hoá có hoạt tính SN-38.
Việc dùng chung irinotecan với các chất ức chế CYP3A4 khác (ví dụ clarithromycin, indinavir, itraconazol, lopinavir, nefazodon, nelfinavir, ritonavir, saquinavir, telaprevir, voriconazol) hoặc UGT1A1 (ví dụ atazanavir, gemfibrozil, indinavir) có thể làm tăng nồng độ toàn phần của irinotecan hoặc SN-38. Ngừng các chất ức chế CYP3A4 mạnh ít nhất 1 tuần trước khi bắt đầu điều trị bằng irinotecan. Không dùng đồng thời các thuốc ức chế mạnh CYP3A4 hoặc UGT1A1 với irinotecan trừ khi không có phương pháp điều trị thay thế.
Thuốc chẹn thần kinh-cơ:
Không thể loại trừ sự tương tác giữa irinotecan và thuốc chẹn thần kinh cơ. Irinotecan có hoạt tính ức chế cholinesterase và có thể kéo dài tác dụng chẹn thần kinh-cơ của suxamethonium và có thể đối kháng với các thuốc chẹn thần kinh cơ nhóm không khử cực.
Cetuximab:
Không có bằng chứng về tính an toàn của irinotecan bị ảnh hưởng bởi cetuximab hoặc ngược lại.
Bevacizumab:
Trong một nghiên cứu, nồng độ irinotecan là tương tự ở bệnh nhân dùng irinotecan/
5-FU/FA hoặc kết hợp với bevacizumab. Nồng độ chất chuyên hóa có hoạt tính của irinotecan (SN-38), được phân tích trong một nghiên cứu (khoảng 30 bệnh nhân mỗi nhánh điều trị). Nồng độ SN-38 trung bình ở bệnh nhân dùng irinotecan/5-FU/FA kết hợp với bevacizumab cao hơn 33% so với những người chỉ dùng irinotecan/5-FU/FA. Do có sự biến đổi giữa các bệnh nhân và giới hạn số lượng mẫu, nên không chắc chắn rằng SN-38 tăng lên do bevacizumab. Có một sự tăng nhẹ hiện tượng tiêu chảy và giảm các triệu chứng bất lợi bạch cầu. Giảm liều irinotecan được báo cáo ở những bệnh nhân dùng irinotecan/5-FU/FA kết hợp với bevacizumab.
Những bệnh nhân bị tiêu chảy nặng, giảm bạch cầu hoặc giảm bạch cầu trung tính khi kết hợp bevacizumab và irinotecan cần được điều chỉnh liều irinotecan.
Thuốc chống đông:
Việc sử dụng thuốc chống đông là phổ biến do bệnh khối u làm tăng nguy cơ các hiện tượng huyết khối. Nếu chỉ định thuốc chống đông máu kháng vitamin K, cần phải tăng tần suất theo dõi INR (chỉ số chuẩn quốc tế) do chỉ số điều trị hẹp, sự biến đổi cơ địa bệnh nhân về huyết khối và khả năng tương tác giữa thuốc chống đông đường uống và hóa trị liệu chống ung thư.
Vắc xin:
Không được sử dụng đồng thời vắc xin sốt vàng với irinotecan vì có nguy cơ dẫn đến tử vong do phản ứng với vắc xin.
Không sử dụng đồng thời vắc xin sống giảm độc lực (trừ sốt vàng) với irinotecan vì nguy cơ mắc bệnh hoặc tử vong (như do nhiễm trùng) có thế xảy ra. Nguy cơ này tăng lên ở những người đã bị ức chế miễn dịch do bệnh tiềm ẩn của họ.
Có thể sử dụng vắc xin bất hoạt trong những trường hợp này (ví dụ như vắc xin bại liệt).
Phenytoin:
Có nguy cơ co giật trầm trọng do sự giảm hấp thu đường tiêu hóa của phenytoin khi sử dụng thuốc gây độc tế bào hoặc tăng nguy cơ nhiễm độc do tăng chuyển hóa phenytoin tại gan.
Ciclosporin, tacrolimus:
Cần cân nhắc khi sử dụng đồng thời irinotecan với ciclosporin hoặc tacrolimus do ức chế miễn dịch quá mức có thể dẫn đến nguy cơ tăng sinh hạch bạch huyết.
9. Thận trọng khi sử dụng
Irinotecan chỉ được sử dụng dưới sự giám sát của các bác sĩ có kinh nghiệm trong việc sử dụng các thuốc điều trị ung thư.
Triệu chứng tiêu chảy và cường phó giao cảm
Tiêu chảy khởi phát sớm (xảy ra trong hoặc ngay sau khi truyền irinotecan) thường là thoáng qua và chỉ thỉnh thoảng mới gây tiêu chảy nặng. Tiêu chảy có thể kèm theo các triệu chứng cường phó giao cảm như viêm mũi, tăng tiết nước bọt, chảy nước mắt, co đồng tử, chảy mồ hôi, đỏ bừng mặt và tăng nhu động ruột gây co thắt bụng. Chứng nhịp tim chậm cũng có thể xảy ra. Tiêu chảy khởi phát sớm và các triệu chứng cường phó giao cảm khác có thể được ngăn ngừa hoặc giảm bớt bằng atropin. Dự phòng hoặc điều trị bằng cách tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da 0,25 - 1mg atropin (trừ khi chống chỉ định trên lâm sàng). Những triệu chứng này xảy ra với tần suất cao hơn khi sử dụng liều irinotecan cao hơn.
Tiêu chảy khởi phát muộn (thường xảy ra sau 24 giờ sử dụng irinotecan) có thể gây nguy hiểm tính mạng, do tiêu chảy kéo dài gây mất nước, mất cân bằng điện giải hoặc nhiễm trùng huyết. Tiêu chuẩn khởi phát muộn mức 3-4 xảy ra ở 23-31% bệnh nhân dùng liều hàng tuần.
Trong các nghiên cứu lâm sàng, thời gian trung bình xảy ra tiêu chảy muộn là 5 ngày với liều dùng 3 tuần và 11 ngày với liều hàng tuần. Tiêu chảy muộn có thể nghiêm trọng do viêm đại tràng, loét, chảy máu, tắc ruột, nhiễm trùng. Tiêu chảy khởi phát muộn cần được điều trị kịp thời bằng loperamid. Bắt đầu sử dụng loperamid ở giai đoạn đầu của phân lỏng hoặc sự xuất hiện nhu động ruột thường xuyên hơn. Liều loperamid là 4mg vào lúc bắt đầu xuất hiện tiêu chảy khởi phát muộn và sau đó là 2mg mỗi 2 giờ cho đến khi bệnh nhân không còn tiêu chảy trong ít nhất 12 giờ. Loperamid không được khuyến cáo sử dụng trong hơn 48 giờ liên tục ở những điều này, vì nguy cơ bị liệt ruột thừa. Vào ban đêm, bệnh nhân có thể sử dụng 4mg loperamid 4 giờ một lần. Cần theo dõi các bệnh nhân tiêu chảy, truyền dịch và chất điện giải đề phòng bệnh nhân bị mất nước, sử dụng kháng sinh nếu bệnh nhân có tắc ruột, sốt hoặc giảm bạch cầu trung tính nghiêm trọng. Sau tuần trị liệu đầu tiên, cần hoãn các tuần hóa trị tiếp theo cho đến khi chức năng ruột trở về tình trạng ban đầu trong tối thiểu 24 giờ mà không cần phải sử dụng thuốc trị tiêu chảy. Nếu tiêu chảy khởi phát muộn độ 2,3 hoặc 4 xảy ra, cần phải giảm liều irinotecan trong chu kỳ tiếp theo.
Tránh dùng thuốc lợi tiểu hoặc thuốc nhuận tràng ở những bệnh nhân bị tiêu chảy.
Huyết học
Tử vong do nhiễm trùng sau khi giảm bạch cầu trung tính cũng đã được ghi nhận ở các bệnh nhân được điều trị bằng irinotecan. Trong những nghiên cứu lâm sàng sử dựng liều hàng tuần, sốt giảm bạch cầu (giảm bạch cầu trung tính độ 4 theo NCI và sốt mức 2 hoặc hơn xuất hiện đồng thời) xảy ra trong 3% bệnh nhân; 6% bệnh nhân được chỉ định G-CSF để điều trị giảm bạch cầu trung tính. Có thể kiểm soát sốt giảm bạch cầu nhanh chóng với sự hỗ trợ kháng sinh. Cần tạm thời bỏ qua trị liệu với irinotecan trong chu kỳ nếu có sốt giảm bạch cầu hoặc nếu số lượng bạch cầu trung tính giảm < 1000/mm³. Sau khi bệnh nhân phục hồi số lượng bạch cầu trung tính ≥ 1000/mm³, cần giảm liều irinotecan cho các lần trị liệu tiếp theo.
Khi đánh giá các thử nghiệm sử dụng chế độ liều hàng tuần, tần suất giảm bạch cầu trung tính độ 3 hoặc 4 thường cao hơn ở các bệnh nhân trước đó được xạ trị vùng chậu/ổ bụng so với bệnh nhân không xạ trị (48% [13/27] so với 24% [67/277]; p = 0,04). Những bệnh nhân trước đó đã được xạ trị vùng chậu và ở bụng có nguy cơ cao suy tủy sau khi dùng irinotecan. Dựa vào các số liệu sơ sài có sẵn, việc sử dụng đồng thời irinotecan cùng với xạ trị không được khuyến cáo.
Bệnh nhân có hàm lượng bilirubin toàn phần trong huyết thanh từ 1,0mg/dL trở lên có khả năng xuất hiện giảm bạch cầu trung tính độ 3 hoặc 4 sau chu kỳ 1 tăng so với bệnh nhân có hàm lượng bilirubin toàn phần trong huyết thanh dưới 1,0mg/dL (50% [19/38] so với 18% [47/266]; p < 0,001). Bệnh nhân thiếu glucuronidation bilirubin, ví dụ như người có hội chứng Gilbert, có thể có nguy cơ cao bị suy tủy khi điều trị với irinotecan.
Bệnh nhân suy gan
Xét nghiệm chức năng gan phải được thực hiện ở thời điểm đầu và trước mỗi chu kỳ điều trị.
Cần theo dõi công thức máu ở bệnh nhân có bilirubin từ 1,5 đến 3 lần ULN (giới hạn trên của phạm vi bình thường), do làm giảm độ thanh thải của irinotecan và do đó làm tăng nguy cơ độc tính tuyến trùng trong quần thể này. Không dùng irinotecan ở những bệnh nhân có bilirubin > 3 lần ULN.
Độc tính trên hô hấp
Bệnh phổi mô kẽ biểu hiện dưới dạng thâm nhiễm phổi là không phổ biến trong điều trị irinotecan. Bệnh phổi mô kẽ có thể gây tử vong. Các yếu tố nguy cơ có thể liên quan đến sự phát triển của bệnh phổi mô kẽ bao gồm: sử dụng các thuốc gây khó thở, xạ trị và các yếu tố kích thích vi khuẩn phát triển. Bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ cần được theo dõi chặt chẽ các triệu chứng hô hấp trước và trong khi điều trị bằng irinotecan.
Rối loạn trên tim mạch
Thiếu máu cơ tim cục bộ đã được quan sát thấy sau khi điều trị irinotecan chủ yếu ở những bệnh nhân có bệnh tim tiềm ẩn, các yếu tố nguy cơ khác gây hại cho tim, hoặc hóa trị liệu gây độc tế bào trước đó. Do đó, bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ đã biết phải được theo dõi chặt chẽ và cần phải có hành động để giảm thiểu tất cả các yếu tố nguy cơ có thể điều chỉnh (ví dụ như hút thuốc lá, cao huyết áp và tăng lipid máu).
Ức chế miễn dịch
Tiêm vắc xin sống hoặc vắc xin sống đã giảm hoạt lực ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch bởi các chất hoá trị liệu như irinotecan, có thể dẫn đến nhiễm trùng nghiêm trọng hoặc tử vong. Cần tránh tiêm vắc xin sống ở bệnh nhân dùng irinotecan. Các vắc xin đã bất hoạt có thể được tiêm, tuy nhiên đáp ứng với những vắc-xin này có thể bị giảm đi.
Độc tính của phác đồ 5 ngày
Ngoài những nghiên cứu lâm sàng được thiết kế chặt chẽ, không nên sử dụng phối hợp irinotecan với phác đồ 5-FU/ LV liên tục trong 4-5 ngày mỗi 4 tuần do độc tính gia tăng và có thể gây tử vong. Irinotecan phải được sử dụng theo đúng khuyến cáo.
Tăng độc tính ở bệnh nhân chỉ số toàn trạng theo WHO = 2
Trong các thử nghiệm lâm sàng sử dụng phác đề irinotecan/5-FU/LV hoặc 5-FU/LV, những bệnh nhân nào có chỉ số toàn trạng theo WHO ở mức 2 có tỷ lệ nhập viện, sốt giảm bạch cầu trung tính, huyết khối tắc mạch, ngưng trị liệu sau chu kỳ 1 và tử vong sớm cao hơn những bệnh nhân có chỉ số toàn trạng theo WHO ở mức 0 hoặc 1.
Rối loạn chức năng thận/suy thận
Tăng creatinin huyết thanh hoặc urê huyết đã được quan sát thấy. Một số hiếm ca gây rối loạn chức năng thận và suy thận cấp đã được xác định, thường xảy ra ở bệnh nhân nôn mửa và/hoặc tiêu chảy nặng. Các trường hợp hiếm hoi rối loạn chức năng thận do hội chúng phân tách khối u cũng đã được báo cáo.
Rối loạn mạch máu
Huyết khối tắc mạch cũng đã xảy ra ở những bệnh nhân được điều trị bằng phác đồ có chứa irinotecan; nguyên nhân của những trường hợp này chưa được xác định.
Bệnh viêm ruột mãn tính và/ hoặc tắc ruột
Bệnh nhân không được điều trị bằng irinotecan cho đến khi giải quyết xong tắc ruột.
Buồn nôn và nôn
Điều trị dự phòng bằng thuốc chống nôn đã được khuyến cáo trước mỗi lần điều trị với irinotecan. Buồn nôn và nôn thường xuyên được báo cáo. Bệnh nhân bị nôn liên quan đến tiêu chảy khởi phát muộn nên được nhập viện càng sớm càng tốt để điều trị.
Bệnh nhân suy giảm hoạt tính UGT1A1
Ở những bệnh nhân có chứa kiểu di truyền đồng hợp tử UGT1A1*28 thấy có sự gia tăng nguy cơ giảm bạch cầu trung tính sau khi khởi đầu trị liệu bằng irinotecan.
Trong một nghiên cứu trên 66 bệnh nhân dùng irinotecan đơn trị liệu (350mg/m² một lần/ tuần mỗi 3 tuần), tỷ lệ giảm bạch cầu trung tính độ 4 ở bệnh nhân đồng hợp tử với UGT1A1*28 là 50% và tỷ lệ mắc ở bệnh nhân dị hợp tử alen (kiểu gen UGT1A1 6/7) là 12,5%. Không có chứng giảm bạch cầu độ 4 được tìm thấy ở những bệnh nhân đồng hợp tử với alen hoang dã (kiểu gen UGT1A1 6/6).
Trong một nghiên cứu tiến cứu (n = 250) để khảo sát vai trò của đa hình UGT1A1*28 trong sự phát triển độc tính ở bệnh nhân điều trị với irinotecan (180mg/m²) kết hợp với tiêm 5-FU/LV, tỉ lệ giảm bạch cầu trung tính độ 4 ở bệnh nhân đồng hợp tử với alen UGT1A1*28 là 4,5%, và tỷ lệ mắc ở bệnh nhân dị hợp tử với alen này là 5,3%. Giảm bạch cầu hạt độ 4 được ghi nhận ở 1,8% bệnh nhân đồng hợp hợp tử với alen hoang dã.
Trong một nghiên cứu khác, trong đó 109 bệnh nhân được điều trị với irinotecan (100-125mg/m²) kết hợp với tiêm bolus 5-FU/ LV, tỷ lệ giảm bạch cầu trung tính độ 4 ở những bệnh nhân đồng hợp tử với alen UGT1A1*28 là 18,2%, và tỷ lệ bệnh nhân dị hợp tử với alen này là 11,1%. Giảm bạch cầu bạt độ 4 đã được quan sát thấy ở 6,8% bệnh nhân đồng hợp với alen hoang dã.
Khi dùng đơn độc hoặc kết hợp với các thuốc khác, cần cân nhắc giảm liều khởi đầu irinotecan ít nhất một độ ở những bệnh nhân được cho là đồng hợp hợp với alen UGT1A1*28. Tuy nhiên, việc giảm liều chính xác trong quần thể bệnh nhân này không được xác định và những điều chỉnh liều tiếp theo nên được xem xét dựa trên khả năng chịu đựng của bệnh nhân đối với điều trị.
Quá mẫn
Phản ứng quá mẫn bao gồm phản ứng phản vệ nghiêm trọng cũng đã được ghi nhận. Cần ngưng sử dụng irinotecan khi xảy ra phản ứng phản vệ.
Tá dược sorbitol
Thuốc có chứa sorbitol, do đó thuốc không thích hợp với những bệnh nhân không dung nạp fructose di truyền.
Các xét nghiệm
Cần theo dõi kỹ công thức bạch cầu, hemoglobin và số lượng tiểu cầu trước mỗi liều irinotecan.
Sử dụng ở trẻ em
Hiệu quả của irinotecan trên bệnh nhi chưa được xác định. Các kết quả từ 2 nghiên cứu mở, chỉ sử dụng 1 nhóm nghiên cứu đã được đánh giá. 170 trẻ có bướu rắn, ít nhạy cảm với thuốc được đưa vào một nghiên cứu pha 2, sir dung irinotecan liều 50mg/m² truyền 5 ngày liên tục trong mỗi 3 tuần. Giảm bạch cầu trung tính độ 3-4 xảy ra ở 54 bệnh nhân (31,8%). Giảm bạch cầu trung tính kèm theo sốt được thấy ở 15 bệnh nhân (8,8%). Tiêu chảy độ 3-4 cũng được ghi nhận ở 35 bệnh nhân (20,6%). Những tác dụng bất lợi này là tương tự so với ở người lớn. Trong một nghiên cứu pha 2 khác gồm 21 trẻ em bị sarcoma cơ, chưa được điều trị trước đó, irinotecan được truyền liều 20mg/m² trong 5 ngày liên tục vào các tuần 0,1,3 và 4. Chế độ đơn trị liệu này sau đó được tiếp tục bằng đa hóa trị. Số lượng liều irinotecan ở pha đơn trị tạm dừng lại do tỷ lệ bệnh tiến triển cao (28,6%) và tử vong sớm (14%). Các phản ứng bất lợi quan sát được trong nghiên cứu này khác với các phản ứng bất lợi xảy ra ở người lớn; tác dụng bất lợi độ 3 hoặc độ 4 thường xuất hiện nhất là mất nước ở 28,6% bệnh nhân, kèm theo giảm K⁺ nặng trong 5 bệnh nhân (23,8%) và giảm Na⁻ ở 3 bệnh nhân (14,3%); Ngoài ra nhiễm trùng độ 3-4 cũng được báo cáo ở 5 bệnh nhân (23,8%) (qua tất cả các đợt trị liệu và không liên quan đến nguyên nhân). Các thông số dược/động học đối với irinotecan và SN-38 cũng được xác định trong 2 thử nghiệm trên bướu rắn ở trẻ em với liều 50mg/m² (truyền 60 phút, n = 48) và 125mg/m² (truyền 90 phút, n = 6). Sự thanh thải irinotecan là 17,3 ± 6,7 L/giờ/m² đối với liều 50mg/m² và 16,2 ± 4,6 L/giờ/m² đối với liều 125mg/m², tương tự so với người lớn. AUC của SN-38 bình thường hóa theo liều là tương tự nhau giữa người lớn và trẻ em. Sự tích tụ irinotecan và SN-38 quan sát được ở trẻ em theo chế độ liều hàng ngày [hàng ngày x 5 mỗi 3 tuần hoặc (hàng ngày x 5 mỗi 3 tuần hoặc (hàng ngày x 5) x 2 tuần cách mỗi 3 tuần) là thấp.
Sử dụng ở bệnh nhân cao tuổi
Cần theo dõi chặt chẽ các bệnh nhân trên 65 tuổi về nguy cơ xảy ra tiêu chảy khởi phát muộn. Liều khởi đầu của irinotecan ở các bệnh nhân từ 70 tuổi trở lên theo chế độ liều 1 lần mỗi 3 tuần là 300mg/m².
10. Dùng cho phụ nữ có thai và cho con bú
Khả năng sinh sản
Không có dữ liệu về ảnh hưởng của irinotecan đối với khả năng sinh sản ở người. Ở động vật, các tác động bất lợi của irinotecan đối với khả năng sinh sản đã được ghi nhận.
Các biện pháp tránh thai cần được thực hiện ở phụ nữ trong tuổi sinh sản và bệnh nhân nam giới trong thời gian điều trị và 3 tháng sau khi điều trị.
Phụ nữ có thai
Không có đủ nghiên cứu trong việc sử dụng irinotecan ở phụ nữ mang thai. Irinotecan đã được chứng minh là có độc tố trên phôi thai và gây quái thai ở thỏ và chuột. Do đó, không nên sử dụng thuốc này trong thời kỳ mang thai.
Nếu bệnh nhân có thai trong khi dùng thuốc này, cần thông báo ngay cho bác sĩ điều trị.
Phụ nữ cho con bú
Chất phóng xạ liên quan đến ¹⁴C-irinotecan xuất hiện trong sữa chuột. Không biết liệu thuốc này có bài tiết trong sữa mẹ hay không. Do nhiều thuốc bài tiết qua sữa mẹ và do irinotecan có nguy cơ gây những phản ứng bất lợi nghiêm trọng trên trẻ bú sữa, vì thế cần ngưng cho con bú khi được điều trị bằng irinotecan.
11. Ảnh hưởng của thuốc Irinotel 100mg/5ml lên khả năng lái xe và vận hành máy móc
Bệnh nhân cần được cảnh báo về nguy cơ hoa mắt, rối loạn thị lực có thể xảy ra trong vòng 24 giờ sau khi truyền irinotecan và khuyến cáo không nên lái xe, vận hành máy móc nếu những triệu chứng này xảy ra.
12. Quá liều
Đã có báo cáo của quá liều ở liều khoảng gấp đôi liều điều trị được khuyến cáo, có thể gây tử vong. Các tác dụng bất lợi quan trọng nhất được báo cáo là giảm bạch cầu nặng và tiêu chảy nặng. Không có thuốc giải độc đặc hiệu khi quá liều. Điều trị hỗ trợ cần phải được thực hiện nhằm phòng ngừa mắt nước do tiêu chảy và trị liệu các biến chứng nhiễm trùng.
13. Bảo quản
Bảo quản thuốc Irinotel 100mg/5ml ở nhiệt độ dưới 30 độ C ở nơi khô ráo, tránh ẩm.
Không đông lạnh.
Không để thuốc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.
Không dùng thuốc Irinotel 100mg/5ml quá hạn ghi trên bao bì.
Cần giữ lọ thuốc trong hộp cho đến khi sử dụng. Độ ổn định về lý hóa có thể duy trì trong 24 giờ ở nhiệt độ phòng và dưới ánh sáng huỳnh quang sau khi hoàn nguyên. Dung dịch thuốc đã pha trong Glucose 5% nếu bảo quản trong tủ lạnh (2-8°C), tránh ánh sáng có thể ổn định trong 48 giờ. Có thể sử dụng dung dịch IRINOTEL trong vòng 6 giờ sau khi pha chế nếu bảo quản ở nhiệt độ phòng. Tránh đông đá IRINOTEL hoặc dung dịch đã pha vì có thể gây kết tủa thuốc. Không bảo quản thuốc đã pha chế bằng dung dịch NaCl 0,9% trong tủ lạnh. Không khuyến cáo trộn với các thuốc khác. Cần quan sát để phát hiện thuốc đổi màu hoặc cặn nếu có trước khi sử dụng.
14. Mua thuốc Irinotel 100mg/5ml ở đâu?
Hiện nay, Irinotel 100mg/5ml là thuốc kê đơn, vì vậy bạn cần nói rõ các triệu chứng của bệnh nhân để được nhân viên y tế tư vấn và hỗ trợ. Thuốc có bán tại các bệnh viện hoặc các nhà thuốc lớn.
Mọi người nên tìm hiểu thông tin nhà thuốc thật kỹ để tránh mua phải hàng giả, hàng kém chất lượng, ảnh hưởng đến quá trình điều trị.
Nếu mọi người ở khu vực Hà Nội có thể mua thuốc có sẵn ở nhà thuốc Thanh Xuân 1 - địa chỉ tại Số 1 Nguyễn Chính, phường Tân Mai, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Ngoài ra, mọi người cũng có thể gọi điện hoặc nhắn tin qua số hotline của nhà thuốc là: 0325095168 - 0387651168 hoặc nhắn trên website nhà thuốc để được nhân viên tư vấn và chăm sóc tận tình.
15. Giá bán
Giá bán thuốc Irinotel 100mg/5ml trên thị trường hiện nay dao động trong khoảng tùy từng địa chỉ mua hàng và giá có thể giao động tùy thời điểm. Mọi người có thể tham khảo giá tại các nhà thuốc khác nhau để mua được thuốc đảm bảo chất lượng và giá thành hợp lý nhất.
“Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, mọi người nên đến thăm khám và hỏi ý kiến bác sĩ có kiến thức chuyên môn để sử dụng an toàn và hiệu quả.”