1. Thuốc Diclofenac 75mg là thuốc gì?
Thuốc Diclofenac là sản phẩm của công ty cổ phần hóa - dược phẩm Mekophar, Việt Nam, với thành phần chính Diclofenac là một loại thuốc chống viêm giảm đau có tác dụng điều trị viêm khớp, rối loạn xương cấp tính, và các tính trạng đau do chấn thương.
2. Thành phần thuốc Diclofenac
- Diclofenac nartri………..75mg
- Tá dược.......... vđ 1 viên ( lactose monohydrat, natri starch glycolat, povidon K29/32, microcrystallin cellulose 101, colloidal silicon dioxyd, magnesi stearat, tinh bột sắn biến tính, methacrylic acid copolymer, màu ponceau 4R lake, hydroxypropylmethylcellulose, màu oxyd sắt đỏ, titan dioxyd, talc, macrogol 6000, polysorbat 80).
3. Chỉ định thuốc Diclofenac 75mg
- Người lớn và người lớn tuổi:
Giảm các mức độ đau và viêm trên nhiều loại tình trạng bệnh, bao gồm:
+ Tình trạng viêm khớp: viêm khớp dạng thấp, viêm đốt sống cứng khớp, viêm xương khớp, đợt cấp của bệnh gút.
+ Rối loạn cơ xương cấp tính: viêm quanh khớp (như cứng vai), viêm gân, viêm bao hoạt dịch gân, viêm túi thanh mạc.
+ Các tình trạng đau khác do chấn thương, bao gồm gãy (xương), đau vùng lưng dưới, bong gân, căng cơ, trật khớp, phẫu thuật chỉnh hình, nhổ răng và những tiểu phẫu khác.
Trẻ em: chế phẩm này không phù hợp với trẻ em.
4. Liều dùng và cách dùng thuốc Diclofenac
- Không được bẻ hoặc nhai viên trước khi uống, nuốt nguyên viên thuốc Diclofenac với nước, tốt nhất là trong hoặc sau khi ăn.
- Để giảm thiểu nguy cơ xuất hiện biến cố bất lợi, cần sử dụng DICLOFENAC 75mg ở liều hàng ngày thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể (xem thêm phần “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc”).
- Liều đề nghị:
+ Người lớn: 1 viên, 1 - 2 lần/ngày. Liều tối đa được khuyến cáo: 150mg/ngày.
+ Nhóm đối tượng đặc biệt:
• Người lớn tuổi: những thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân này, do dễ gặp phải những phản ứng không mong muốn hơn. Đặc biệt, khuyến cáo nên sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả ở những bệnh nhân già yếu hoặc những người có trọng lượng cơ thể thấp, và bệnh nhân nên được theo dõi xuất huyết tiêu hóa trong khi điều trị bằng NSAID.
• Bệnh nhân suy thận: diclofenac chống chỉ định đối với những bệnh nhân suy thận nghiêm trọng. Chưa có nghiên cứu đặc biệt được thực hiện trên bệnh nhân suy thận, do đó, không có sự điều chỉnh liều đặc biệt được khuyến cáo.
Cần thận trọng khi sử dụng diclofenac cho những bệnh nhân suy thận từ nhẹ tới trung bình.
• Bệnh nhân suy gan: diclofenac chống chỉ định đối với những bệnh nhân suy gan nghiêm trọng. Chưa có nghiên cứu đặc biệt được thực hiện trên bệnh nhân suy gan, do đó, không có sự điều chỉnh liều đặc biệt được khuyến cáo.
Cần thận trọng khi sử dụng diclofenac cho những bệnh nhân suy gan từ nhẹ tới trung bình.
* Xử lý thuốc trước và sau khi sử dụng:
Không có yêu cầu đặc biệt về xử lý thuốc trước và sau khi sử dụng.
5. Chống chỉ định thuốc Diclofenac
- Quá mẫn với diclofenac, aspirin hay các NSAID khác (hen, viêm mũi, mày đay sau khi dùng aspirin), hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.
- Loét dạ dày tiến triển.
- Có tiền sử xuất huyết hoặc thủng đường tiêu hóa liên quan đến việc sử dụng NSAID.
- Người bị hen hay co thắt phế quản, chảy máu, bệnh tim mạch, suy thận nặng hoặc suy gan nặng.
- Người đang dùng bất cứ thuốc chống đông máu nào (coumarin, thuốc chống kết tập tiểu cầu).
- Người bị suy tim sung huyết, giảm thể tích tuần hoàn do thuốc lợi niệu hay do suy thận, độ lọc cầu thận < 30ml/phút (do nguy cơ xuất hiện suy thận).
- Người bị bệnh chất tạo keo (nguy cơ xuất hiện viêm màng não vô khuẩn. Cần chú ý là tất cả các trường hợp bị viêm màng não vô khuẩn đều có trong tiền sử một bệnh tự miễn nào đó, như một yếu tố dễ mắc bệnh).
- Giảm đau trong phẫu thuật ghép nối tắt động mạch vành do nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
- Phụ nữ trong giai đoạn 3 tháng cuối của thai kỳ.
- Người bị suy tim sung huyết (từ độ II đến độ VI theo phân độ chức năng của suy tim theo Hội Tim New York - NYHA), bệnh tim thiếu máu cục bộ, bệnh động mạch ngoại vi, bệnh mạch máu não.
6. Tác dụng không mong muốn của thuốc Diclofenac
- Thường gặp (1/100 ≤ ADR < 1/10):
+ Rối loạn hệ thần kinh: nhức đầu, chóng mặt.
+ Rối loạn tai và mê đạo: chóng mặt.
+ Rối loạn đường tiêu hóa: buồn nôn, nôn, tiêu chảy, khó tiêu, đau bụng, đầy hơi, chán ăn.
+ Rối loạn gan - mật: tăng transaminase.
+ Rối loạn da và mô dưới da: phát ban.
- Hiếm gặp (1/10.000 ≤ ADR < 1/1.000):
+ Rối loạn hệ miễn dịch: các phản ứng dị ứng không đặc hiệu, phản ứng kiểu phản vệ (bao gồm hạ huyết áp và sốc) và choáng phản vệ. Hen suyễn, trầm trọng hơn tình trạng hen suyễn, co thắt phế quản hoặc khó thở.
+ Rối loạn thần kinh: ngủ gật.
+ Rối loạn tim: phù nề.
+ Rối loạn hô hấp: hen suyễn (bao gồm khó thở).
+ Rối loạn đường tiêu hóa: viêm dạ dày, nôn ra máu, tiêu chảy có máu, đại tiện phân màu đen, loét đường tiêu hóa (có hoặc không có chảy máu hoặc thủng), đôi khi gây tử vong, đặc biệt là ở những người lớn tuổi.
+ Rối loạn gan - mật: vàng da, chức năng gan bất thường, viêm gan.
+ Rối loạn da và mô dưới da: mề đay.
- Rất hiếm gặp (ADR < 1/10.000):
+ Rối loạn máu và hệ bạch huyết: giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu, thiếu máu tán huyết, thiếu máu bất sản, mất bạch cầu hạt.
+ Rối loạn hệ miễn dịch: phù mạch, phù mạch thần kinh (bao gồm cả phù nề mặt).
+ Rối loạn tâm thần: trầm cảm, mất phương hướng, mất ngủ, khó chịu, phản ứng tâm thần, ác mộng.
+ Rối loạn thần kinh: rối loạn trí nhớ, dị cảm, viêm màng não vô khuẩn (đặc biệt là ở những bệnh nhân có rối loạn tự miễn như lupus ban đỏ, bệnh mô liên kết hỗn hợp) với các triệu chứng như cứng cổ, nhức đầu, buồn nôn, nôn mửa, sốt hoặc mất phương hướng. Nhầm lẫn, ảo giác, khó chịu, mệt mỏi và buồn ngủ, rối loạn vị giác, run, co giật, lo âu, tai biến mạch máu não.
+ Rối loạn thị giác: nhìn mờ, nhìn đôi, viêm dây thần kinh thị giác.
+ Rối loạn tai và mê đạo: giảm thính lực, ù tai.
+ Rối loạn tim: tăng huyết áp, viêm mạch, đánh trống ngực, đau ngực, suy tim.
+ Rối loạn mạch máu: gia tăng nguy cơ các huyết khối động mạch (ví dụ: nhồi máu cơ tim hay đột quỵ).
+ Rối loạn hô hấp: viêm phổi.
+ Rối loạn đường tiêu hóa: đợt cấp của viêm đại tràng và bệnh Crohn, táo bón, viêm loét miệng, viêm lưỡi, rối loạn thực quản, bệnh màng ngăn của ruột, viêm tụy.
+ Rối loạn gan - mật: suy gan, hoại tử gan.
+ Rối loạn da và mô dưới da: phản ứng nhạy cảm với ánh sáng, ban da, phát ban bóng nước, chàm, hồng ban đa dạng, hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử biểu bì nhiễm độc (hội chứng Lyell), rụng tóc, viêm da tróc vảy, ban xuất huyết, ban xuất huyết dị ứng, ngứa.
+ Rối loạn thận và tiết niệu: độc tính trên thận với các hình thức khác nhau, bao gồm cả viêm thận kẽ, protein niệu, hoại tử như thận, hội chứng thận hư, suy thận cấp, rối loạn tiết niệu (tiểu ra máu).
- Chưa rõ tần suất: rối loạn đường tiêu hóa (viêm đại tràng thiếu máu).
- Nguy cơ huyết khối tim mạch: các thử nghiệm lâm sàng và dịch tễ dược học cho thấy việc sử dụng diclofenac có liên quan đến tăng nguy cơ xuất hiện biến cố huyết khối tim mạch (như nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ), đặc biệt khi sử dụng diclofenac ở liều cao (150mg/ngày) và kéo dài (xem thêm phần “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc”).
- Thông báo ngay cho bác sĩ hoặc dược sĩ những phản ứng có hại gặp phải khi sử dụng thuốc.
7. Tương tác thuốc
Các NSAID khác (bao gồm cả loại ức chế chọn lọc cyclooxygenase-2) và các corticosteroid: sử dụng đồng thời với diclofenac có thể làm tăng nguy cơ loét hoặc xuất huyết tiêu hóa. Tránh sử dụng đồng thời hai hoặc nhiều hơn các thuốc chống viêm không steroid.
- Thuốc lợi tiểu và thuốc hạ huyết áp: giống như các NSAID khác, dùng đồng thời diclofenac với thuốc lợi tiểu và thuốc hạ huyết áp (ví dụ: beta-blocker, thuốc ức chế men chuyển (ACEi)] có thể gây giảm hiệu quả hạ huyết áp thông qua sự
ức chế tổng hợp prostaglandin giãn mạch. Do đó, cần thận trọng khi sử dụng đồng thời các thuốc này, đặc biệt là người cao tuổi, nên đo huyết áp định kỳ. Bệnh nhân cần được cung cấp nước đầy đủ và nên cân nhắc theo dõi chức năng thận sau khi bắt đầu điều trị đồng thời, đặc biệt đối với thuốc lợi tiểu và thuốc ức chế men chuyển do sự gia tăng nguy cơ
nhiễm độc thận.
- Glycosid tim: NSAID có thể làm trầm trọng thêm suy tim, giảm mức lọc cầu thận (GFR) và làm tăng nồng độ glycosid trong huyết tương.
- Lithi: nếu sử dụng đồng thời, diclofenac có thể làm tăng nồng độ lithi trong huyết tương đến mức gây độc. Nếu buộc phải dùng đồng thời thì cần phải theo dõi người bệnh thật cẩn thận để phát hiện kịp thời dấu hiệu ngộ độc lithi và phải theo dõi nồng độ lithi trong máu thường xuyên.
- Methotrexat: diclofenac có thể ức chế sự thanh thải của methotrexat qua ống thận làm tăng nồng độ methotrexate. Không được dùng diclofenac tại thời điểm ít hơn 24 giờ trước khi dùng methotrexate.
- Ciclosporin: diclofenac có thể làm tăng độc tính trên thận của cyclosporin do hiệu ứng trên prostaglandin thận. Cần giảm liều diclofenac khi dùng đồng thời với ciclosporin.
- Mifepriston: các NSAID, bao gồm cả diclofenac, không nên sử dụng trong vòng 8 - 12 ngày sau khi dùng mifepristone do thuốc có thể làm giảm hiệu lực của mifepristone.
- Thuốc chống đông và thuốc chống kết tập tiểu cầu: đã có những báo cáo về tăng nguy cơ xuất huyết ở bệnh nhân dùng diclofenac và thuốc chống đông đồng thời. Do đó, để chắc chắn rằng không cần thiết phải thay đổi liều lượng thuốc chống đông, giám sát chặt chẽ ở bệnh nhân này là bắt buộc. Cũng như những thuốc chống viêm không steroid khác, diclofenac ở liều cao có thể ức chế thuận nghịch kết tập tiểu cầu.
- Digoxin: diclofenac có thể làm tăng nồng độ digoxin trong huyết thanh và kéo dài thời gian bán thải của digoxin. Cần định lượng nồng độ digoxin trong máu và cần giảm liều digoxin nếu dùng đồng thời cả 2 thuốc.
- Thuốc ức chế tái hấp thu serotorin có chọn lọc (SSRIs): gia tăng nguy cơ chảy máu dạ dày - ruột khi dùng đồng thời với diclofenac.
- Tacrolimus: tăng nguy cơ nhiễm độc thận khi dùng đồng thời với các NSAID. Nguyên nhân có thể do tác dụng ức chế prostagladin thận của NSAID và/hoặc tác dụng ức chế calcineurin của tacrolimus.
- Các kháng sinh quinolon: co giật có thể xảy ra do sự tương tác giữa các quinolon và NSAID. Điều này có thể xảy ra ở những bệnh nhân có hoặc không có tiền sử bệnh động kinh hoặc co giật. Vì vậy, cần thận trọng khi xem xét việc sử dụng các quinolon ở những bệnh nhân đang dùng NSAID.
- Phenytoin: khi dùng đồng thời với diclofenac, cần giám sát nồng độ phenytoin trong huyết tương do sự gia tăng thời gian tiếp xúc phenytoin.
- Colestipol và cholestyramin: có thể gây chậm hấp thu hoặc giảm hấp thu của diclofenac. Do đó, nên uống diclofenac ít nhất 1 giờ trước hoặc 4 - 6 giờ sau khi uống colestipol/cholestyramin.
- Zidovudin: gia tăng nguy cơ độc tính huyết học khi sử dụng cùng với các NSAID.
- Thuốc điều trị đái tháo đường: có thể gây tăng hoặc hạ đường huyết khi sử dụng đồng thời với diclofenac. Vì lý do này, theo dõi mức đường huyết được khuyến cáo như là một biện pháp phòng ngừa.
- Các thuốc ức chế CYP2C9 mạnh (voriconazol): do ức chế sự chuyển hóa của diclofenac dẫn đến gia tăng đáng kể nồng độ đỉnh trong huyết tương và thời gian tiếp xúc với diclofenac.
* Tương kỵ của thuốc:
Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.
8. Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc Diclofenac 0,5mg
- Tác dụng không mong muốn có thể được giảm thiểu bằng cách dùng liều thấp nhất có hiệu quả và sử dụng trong thời gian ngắn nhất có thể muốn.
- Tránh sử dụng kết hợp với các NSAID khác (bao gồm cả thuốc ức chế chọn lọc cyclooxygenase-2), do chưa có bằng chứng về lợi ích hiệp lực trong khi gia tăng nguy cơ các tác dụng không mong muốn.
- Người cao tuổi: nguy cơ xảy ra các tác dụng không mong muốn tăng lên khi sử dụng thuốc ở người cao tuổi, đặc biệt là chảy máu và thủng đường tiêu hóa, có thể gây tử vong.
- Ảnh hưởng lên tiêu hóa:
+ Giám sát y tế chặt chẽ và cần thận trọng khi dùng diclofenac cho những bệnh nhân có tiền sử loét, chảy máu hoặc thủng đường tiêu hóa, hoặc có bệnh Crohn.
+ Bệnh nhân có tiền sử nhiễm độc đường tiêu hóa, đặc biệt là người cao tuổi, cần báo ngay với bác sĩ bất kỳ triệu chứng đau bụng bất thường (đặc biệt là khi phân có màu đen) trong quá trình sử dụng thuốc.
+ Chảy máu đường tiêu hóa (nôn ra máu, đại tiện phân màu đen), loét hoặc thủng, có thể gây tử vong, đã được báo cáo với tất cả các NSAID tại bất cứ lúc nào trong quá trình điều trị, xảy ra đi kèm hoặc không đi kèm các triệu chứng cảnh báo; có hoặc không có tiền sử bệnh đường tiêu hóa nghiêm trọng. Các tác dụng không mong muốn này thường để lại những hậu quả nghiêm trọng hơn ở người cao tuổi.
+ Nguy cơ xảy ra tác dụng không mong muốn trên đường tiêu hóa tăng lên khi tăng liều NSAID và ở những bệnh nhân có tiền sử loét, chảy máu hoặc thẳng đường tiêu hóa, người cao tuổi. Những bệnh nhân này nên được bắt đầu và duy trì ở liều điều trị thấp nhất có hiệu quả. Cần sử dụng kết hợp với các thuốc bảo vệ (ví dụ: misoprostol hoặc thuốc ức chế bơm proton) ở những bệnh nhân này, và cả trong trường hợp bệnh nhân đang dùng aspirin liều thấp hoặc các loại thuốc khác có thể làm tăng nguy cơ trên đường tiêu hóa.
+ Cần thận trọng khi sử dụng diclofenac đồng thời với các thuốc làm tăng nguy cơ loét hoặc chảy máu đường tiêu hóa như corticosteroid đường uống, thuốc chống đông máu (warfarin), thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin, hoặc chất chống kết tập tiểu cầu (aspirin).
+ Khi loét hoặc chảy máu đường tiêu hóa xảy ra ở những bệnh nhân dùng diclofenac, cần ngừng sử dụng thuốc.
- Phản ứng quá mẫn: cũng giống như các NSAID khác, diclofenac có thể gây ra các phản ứng dị ứng, bao gồm cả phản vệ/phản ứng kiểu phản vệ (có thể ngay ở lần đầu dùng thuốc).
- Nhiễm khuẩn: diclofenac có thể che lấp các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm khuẩn.
- Lupus ban đỏ hệ thống (SLE) và bệnh mô liên kết hỗn hợp; ở những bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống và rối loạn mô liên kết hỗn hợp, diclofenac có thể làm tăng nguy cơ viêm màng não vô khuẩn.
- Ảnh hưởng lên thận
+ Diclofenac có thể gây giảm prostaglandin phụ thuộc liều dẫn đến suy thận.
+ Tình trạng giữ nước và phù đã được báo cáo liên quan đến điều trị bằng các NSAID kể cả diclofenac, cần đặc biệt thận trọng khi dùng thuốc cho những bệnh nhân suy giảm chức năng tim hoặc thận, tiền sử tăng huyết áp, người cao tuổi, bệnh nhân đang điều trị đồng thời với thuốc lợi tiểu hoặc các thuốc có ảnh hưởng đáng kể đến chức năng thận, và những bệnh nhân bị giảm thể tích dịch ngoại bào do bất kỳ nguyên nhân nào. Theo dõi chức năng thận được khuyến cáo như là một biện pháp phòng ngừa khi sử dụng diclofenac trong những trường hợp như vậy. Bệnh nhân thường trở về trạng thái trước khi điều trị sau khi ngừng thuốc.
- Ảnh hưởng lên gan:
+ Giám sát y tế chặt chẽ là cần thiết khi dùng diclofenac cho bệnh nhân bị suy giảm chức năng gan, do thuốc có thể làm tình trạng gan trầm trọng hơn.
+ Diclofenac có thể gây tăng giá trị xét nghiệm của một hay nhiều men gan. Khi điều trị kéo dài, giám sát thường xuyên chức năng gan được chỉ định như một biện pháp phòng ngừa. Nếu các bất thường về xét nghiệm chức năng gan vẫn tồn tại hoặc xấu đi, có dấu hiệu hoặc triệu chứng lâm sàng của bệnh gan tiến triển hoặc nếu các biểu hiện khác xảy ra (tăng bạch cầu ái toan, phát ban), nên ngưng sử dụng thuốc.
+ Viêm gan có thể xảy ra mà không có triệu chứng báo trước.
+ Sử dụng diclofenac ở bệnh nhân rối loạn chuyển hóa porphyrin gan có thể gây ra đợt cấp của bệnh.
- Huyết học: diclofenac có thể ức chế thuận nghịch kết tập tiểu cầu. Bệnh nhân có khiếm khuyết về đông máu, chảy máu tạng hoặc các rối loạn huyết học cần được theo dõi cẩn thận.
- Điều trị dài ngày: tất cả các bệnh nhân đang được điều trị dài ngày với diclofenac nên được theo dõi chức năng thận, chức năng gan và công thức máu, đặc biệt là ở người cao tuổi.
- Ảnh hưởng hô hấp:
+ Ở những bệnh nhân bị bệnh hen suyễn, viêm mũi dị ứng theo mùa, sưng niêm mạc mũi (polyp mũi), bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hoặc nhiễm khuẩn đường hô hấp mạn tính, các phản ứng với các NSAID như phù Quincke, mày đay thường xảy ra hơn so với các bệnh nhân khác. Vì vậy, các biện pháp phòng ngừa đặc biệt cần được khuyến cáo ở những bệnh nhân này và cả trên những bệnh nhân bị dị ứng với các chất khác (ví dụ: phản ứng da, ngứa hoặc nổi mề đay).
+ Cũng như các thuốc ức chế hoạt động prostaglandin synthetase khác, diclofenac có thể gây co thắt phế quản nếu dùng cho bệnh nhân đang hoặc có tiền sử hen phế quản.
- Ảnh hưởng tuần hoàn và mạch máu não:
+ Giám sát và tư vấn thích hợp là cần thiết cho bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp và/hoặc suy tim sung huyết nhẹ đến trung bình. Giữ nước và phù đã được báo cáo ở những bệnh nhân này khi dùng các NSAID, bao gồm diclofenac.
+ Thử nghiệm lâm sàng và dữ liệu dịch tễ cho thấy rằng việc sử dụng diclofenac, đặc biệt ở liều cao (150mg/ngày) và điều trị dài hạn, có thể liên quan đến việc tăng nhẹ nguy cơ các huyết khối động mạch (ví dụ: nhồi máu cơ tim hay đột quỵ).
+ Bệnh nhân tăng huyết áp không kiểm soát được, suy tim sung huyết, bệnh thiếu máu cơ tim, bệnh động mạch ngoại biên và/hoặc bệnh mạch máu não và với các yếu tố nguy cơ tim mạch đáng kể (ví dụ: rối loạn lipid máu, đái tháo đường, hút thuốc lá) chỉ nên được điều trị với diclofenac sau khi đã xem xét cẩn thận.
+ Các nguy cơ tim mạch của diclofenac có thể tăng theo liều lượng và thời gian sử dụng, do đó nên dùng liều thấp nhất có hiệu quả và dùng trong thời gian ngắn nhất có thể. Cần đánh giá định kỳ về liều và đáp ứng trị liệu của bệnh nhân.
+ Nguy cơ huyết khối tim mạch: các NSAID, không phải aspirin, dùng đường toàn thân, có thể tăng nguy cơ xuất hiện biến cố huyết khối tim mạch, bao gồm cả nhồi máu cơ tim và đột quỵ, có thể dẫn đến tử vong. Nguy cơ này có thể xuất hiện sớm trong vài tuần đầu dùng thuốc và có thể tăng lên theo thời gian dùng thuốc. Nguy cơ huyết khối tim mạch được ghi nhận chủ yếu ở liều cao. Bác sĩ cần đánh giá định kỳ sự xuất hiện các biến cố tim mạch, ngay cả khi bệnh nhân không có các triệu chứng tim mạch trước đó. Bệnh nhân cần được cảnh báo về các triệu chứng của biến cố tim mạch nghiêm trọng, và cần thăm khám bác sĩ ngay khi xuất hiện các triệu chứng này. Để giảm thiểu nguy cơ xuất hiện biến cố bất lợi, cần sử dụng diclofenac ở liều hàng ngày thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể. Cần cân nhắc khi sử dụng diclofenac cho bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ xuất hiện các biến cố tim mạch rõ rệt (tăng huyết áp, tăng lipid huyết thanh, đái tháo đường, nghiện thuốc lá).
- Da liễu: phản ứng da nghiêm trọng, thậm chí tử vong, trong đó có viêm da tróc vảy, hội chứng Stevens-Johnson (SJS) và hoại tử biểu bì nhiễm độc (TEN) đã được báo cáo khi sử dụng NSAID (mặc dù rất hiếm). Sự khởi đầu của các phản ứng thường xảy ra trong tháng điều trị đầu tiên. Diclofenac nên được ngưng ngay khi xuất hiện dấu hiệu đầu tiên của
ban da, tổn thương niêm mạc, hoặc bất cứ dấu hiệu nào của quá mẫn.
- Ảnh hưởng lên khả năng sinh sản của nữ giới: việc sử dụng diclofenac có thể làm giảm khả năng sinh sản ở nữ và không được khuyến cáo ở phụ nữ cố gắng để thụ thai. Không nên dùng diclofenac cho phụ nữ gặp khó khăn trong việc thụ thai hoặc đang điều trị vô sinh.
- Chế phẩm có chứa lactose. Những bệnh nhân mắc các rối loạn di truyền hiếm gặp về dung nạp galactose, chứng thiếu hụt Lapp lactase, hoặc rối loạn hấp thu glucose-galactose không nên sử dụng chế phẩm này.
- Chế phẩm có chứa tá dược màu ponceau 4R lake, có thể gây phản ứng dị ứng.
9. Sử dụng thuốc Diclofenac cho phụ nữ mang thai và cho con bú
- Thời kỳ mang thai: chỉ dùng diclofenac cho người mang thai khi thật cần thiết và khi người bệnh không dùng được các thuốc chống viêm thuộc các nhóm khác, và chỉ dùng với liều cần thiết thấp nhất. Chống chỉ định dùng thuốc ở giai đoạn 3 tháng cuối của thai kỳ (do nguy cơ ức chế tử cung co bóp, làm đóng ống động mạch sớm, gây tăng áp lực tiểu
tuần hoàn không hồi phục và suy thận ở thai nhi).
- Thời kỳ cho con bú: giống như các NSAID khác, diclofenac có bài tiết vào sữa mẹ với lượng nhỏ. Vì vậy, diclofenac không nên dùng trong thời gian cho con bú để tránh những tác dụng không mong muốn trên trẻ sơ sinh.
10. Ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành máy móc
Diclofenac có thể gây chóng mặt, buồn ngủ, mệt mỏi và rối loạn thị giác, cần thận trọng sử dụng với người thực hiện các công việc nguy hiểm và cần sự tập trung.
11. Bảo quản
Bảo quản thuốc Diclofenac ở nhiệt độ dưới 30 độ C ở nơi khô ráo, tránh ẩm.
Không để thuốc Diclofenac tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.
Không dùng thuốc Diclofenac quá hạn ghi trên bao bì.
12. Mua thuốc Diclofenac ở đâu?
Hiện nay, Diclofenac là thuốc kê đơn, vì vậy bạn cần nói rõ các triệu chứng của bệnh nhân để được nhân viên y tế tư vấn và hỗ trợ. Thuốc Diclofenac có bán tại các bệnh viện hoặc các nhà thuốc lớn.
Mọi người nên tìm hiểu thông tin nhà thuốc thật kỹ để tránh mua phải hàng giả, hàng kém chất lượng, ảnh hưởng đến quá trình điều trị.
Nếu mọi người ở khu vực Hà Nội có thể mua thuốc có sẵn ở nhà thuốc Thanh Xuân 1 - địa chỉ tại Số 1 Nguyễn Chính, phường Tân Mai, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Ngoài ra, mọi người cũng có thể gọi điện hoặc nhắn tin qua số hotline của nhà thuốc là: 0325095168 hoặc nhắn trên website nhà thuốc để được nhân viên tư vấn và chăm sóc tận tình.
13.Giá bán
Giá bán thuốc Diclofenac trên thị trường hiện nay dao động trong khoảng đ/hộp. Tuy nhiên giá thuốc có thể thay đổi phụ thuộc vào địa điểm mua hàng cũng như tùy từng thời điểm.
“Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, mọi người nên đến thăm khám và hỏi ý kiến bác sĩ, dược sĩ có kiến thức chuyên môn để sử dụng an toàn và hiệu quả.”